khach san bac ninh

  • "Tự soi, tự sửa", vũ khí sắc bén để ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái trong cán bộ, đảng viên

    14/04/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Từ rất sớm, trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: làm cách mệnh “trước hết phải có Đảng cách mệnh…”. Theo Người, Đảng cách mệnh là nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng, nhưng Đảng đó phải bao gồm những người có tư cách của người cách mệnh, mà tư cách người cách mệnh được Người khái quát hết sức đơn giản, ngắn gọn đó là “Cần, kiệm; Hòa mà không tư; cả quyết sửa lỗi mình; cẩn thận mà không nhút nhát…”. Từ những tư tưởng đó với sự quyết tâm nỗ lực của chính mình, Người đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3 tháng 2 năm 1930.

    Cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã có bước chuyển quan trọng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Song để Đảng trở thành người lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam Đảng phải không ngừng tự chỉnh đốn để Đảng thực sự là Đảng cách mạng. Từ khi chưa trở thành Đảng cầm quyền, năm 1939, Tổng Bí thư của Đảng Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm "Tự chỉ trích" để chỉnh đốn Đảng, đảng viên phải tự chỉ trích trước Đảng. Mục đích của “Tự chỉ trích”: Là phải thông qua phê bình và tự phê bình trong Đảng để “tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiến thủ”. Trong “Tự chỉ trích”, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ rõ “Người cộng sản có bổn phận nói sự thật với quần chúng, dẫn đường cho quần chúng chớ không phải theo đuôi họ, hay phỉnh họ…”.

    Về phương pháp phê bình và tự phê bình: Trong tác phẩm “Tự chỉ trích”, đồng chí Nguyễn Văn Cừ yêu cầu: “Phê bình và tự phê bình phải tôn trọng sự thật, công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những lỗi lầm của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thỏa hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng, mà là làm cho Đảng được thống nhất, mạnh mẽ.” Đồng chí còn chỉ rõ: “Mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận, tự do chỉ trích, miễn là sự thảo luận luôn luôn mang tinh thần Bôn-sê-vich, không làm giảm uy tín của Đảng.”


     "Tự soi, tự sửa", vũ khí sắc bén để ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái trong cán bộ, đảng viên

     

    Nói về tự phê bình và phê bình trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành nhiều thời gian và công sức để giáo dục và rèn luyện Đảng ta. Tự phê bình và phê bình không những chỉ là tư tưởng mà còn là tấm gương mẫu mực của Người để toàn Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên học tập và làm theo. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”.

         Người khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình,… là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn…”.

         Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích của tự phê bình và phê bình với người cách mạng là: “Giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ… Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

         Trong toàn bộ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng, Người luôn chú ý đến việc giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, đồng thời Người luôn nhắc nhở Đảng, muốn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì Đảng phải thường xuyên được xây dựng và chỉnh đốn để đáp ứng với lòng mong mỏi của nhân dân. Trước lúc đi xa, Người đã để lại bản Di chúc thiêng liêng cho toàn Đảng, toàn dân, trong đó lời dặn “Trước hết nói về Đảng”, Người chỉ rõ, để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng, “…Cần thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”, bởi theo Người đó “là cách tốt nhất”.

         Trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn nhất quán quan điểm “Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt”. Đối với việc xây dựng chỉnh đốn Đảng, Đảng luôn coi trọng tự phê bình và phê bình, vì Đảng khẳng định:“Tự phê bình và phê bình là một quy luật phát triển và tiến bộ của Đảng, cũng là một phương pháp căn bản để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng”.

         Quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, nhiều vấn đề mới, phức tạp nảy sinh đòi hỏi Đảng phải giải quyết, một trong những vấn đề nổi cộm đó là phải thực hiện xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh loại trừ những căn bệnh nguy hiểm có thể nảy sinh trong Đảng cầm quyền. Vì vậy các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều chú trọng công tác xây dựng Đảng mà tập trung thể hiện cao nhất ở Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII vừa qua đã thảo luận và ban hành Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm với nhiều điểm mới nổi bật.

         Đặc biệt trong thời gian tới, Kết luận số 21-KL/TW khẳng định: Phải tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đã đề ra; đồng thời bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm”. 

         Theo đó, phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, "lợi ích nhóm". Rà soát, hoàn thiện, thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; công tác cán bộ, công tác kiểm tra; công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận.

     

         Để triển khai thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIIIl đi vào thực tiễn cuộc sống, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp luôn nhận thức đầy đủ, sâu sắc trách nhiệm của mình trước dân, đất nước, trước Đảng để tự giác gương mẫu thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong đó, thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, có ý nghĩa quyết định trong việc ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

         Những nội dung mới đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và có phương pháp đúng đắn, linh hoạt để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) tạo chuyển biến mới trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, như lời phát biểu Bế mạc Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên "hãy phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung ương" để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay.

     

    BTG-TĐBN

  • Bác Hồ với bộ đội ở Đền Hùng

    12/04/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    - Các chú có mệt không?
    Mọi người đáp ran:
    - Thưa Bác, không ạ!
    Theo hiệu của Bác, tất cả cán bộ chiến sĩ đều nhất loạt ngồi xuống bậc thềm, vây quanh lấy Bác.
    Mở đầu câu chuyện, Bác chỉ tay lên đền, thân mật hỏi:
    - Các chú có biết đây là nơi nào không? Đây chính là đền thờ vua Hùng, tổ tiên của chúng ta. Bác cháu ta gặp nhau ở đây tuy tình cờ nhưng lại rất có ý nghĩa. Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Trải qua bao nhiêu thời đại đấu tranh, ông cha ta mới giữ được Thủ đô. Tám, chín năm nay, do quân dân ta kiên quyết kháng chiến nên mới có thắng lợi trở về Hà Nội. Vì thế, các chú được Trung ương và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô, là được nhận một vinh dự rất lớn.
    Sau đó, Bác nhắc nhở: "Quân đội ta không được vì sống trong hoà bình mà lơi lỏng tay súng. Còn đế quốc ở miền Nam, còn đế quốc trên thế giới thì còn phải xây dựng quân đội mạnh mẽ".
    Ai nấy đều nhớ mãi lời khuyến khích, dặn dò ân cần của Bác. Lúc câu chuyện kết thúc, Bác nói:
    - Đồng bào Hà Nội chờ mong các chú từ ngày các chú ra đi, nay đang mong cờ đỏ sao vàng, chờ đợi hoan hô các chú. Hãy xứng đáng với vinh dự đó, trách nhiệm đó.
    Vô cùng phấn khởi, mọi người vội đứng cả dậy, xúm xít quanh Bác Hồ hô lớn: "Chủ tịch muôn năm! Chúc Bác vui khỏe, sống lâu!".
    Bác cười hiền hậu, nói:
    - Được, muốn Bác vui khỏe sống lâu, các chú hãy làm đúng lời Bác dặn.
    Những lời căn dặn cửa Bác Hồ với bộ đội tại Đền Hùng 48 năm về trước đã đặt ra cho thế hệ chúng ta hôm nay trách nhiệm nặng nề và rất vẻ vang.
    Trích trong Kể chuyện Bác Hồ , Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006, t. 4, tr.8.


    Tác giả bài viết: Theo Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

  • Đoàn kết, lời căn dặn thiết tha của Bác

    07/04/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc và xây dưng khối đại đoàn kết toàn dân có giá trị lí luận và thực tiễn hết sức quan trọng. Bác khẳng định trong Di chúc: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

  • Phát huy nhân tố con người theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

    05/04/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của con người và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng có nội dung rộng lớn, sâu sắc và luôn luôn mới, đầy sáng tạo. Tư tưởng ấy giúp chúng ta tìm thấy sức mạnh trong công việc của mình, dù ở bất cứ lĩnh vực nào, nếu biết phát huy nhân tố con người thì nhất định sẽ thành công.

  • Tấm gương học ngoại ngữ của Bác Hồ

    29/03/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về ý chí học tập, vươn lên không mệt mỏi. Đây là một trong những yếu tố giúp Người trở thành một trong những lãnh tụ vĩ đại trong lịch sử Việt Nam và thế giới. Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, trải qua bao khó khăn, gian khổ, ý chí đó càng được tôi luyện và sáng ngời.

    Khi mới học hết lớp Nhì bậc tiểu học (Năm học 1908 - 1909 Người học lớp Nhì trường Quốc học Huế), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi, bắt đầu chuyến hành trình tìm đường đưa dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân, phong kiến. Chuyến hành trình này đưa Người đến nhiều nước trên thế giới, mang lại cho Người hiểu biết về các nền văn hoá trên thế giới cũng như cơ hội được chứng kiến nhiều cảnh đời khác nhau của các tầng lớp trong xã hội để từ đó Người có những nhận thức đúng đắn nhất để xác định được con đường đến với chân lý. Trong quá trình hoạt động cách mạng gian khổ đó, một phương tiện vô cùng quan trọng và cần thiết mà Người luôn trau dồi và luôn giúp ích hỗ trợ cho Người trong giao tiếp và hoạt động chính trị đó chính là vốn ngoại ngữ của nhiều nước khác nhau nơi Người đã từng sống và hoạt động. Có thể nói, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, cho đến hiện nay ít người có thể sử dụng nhiều ngoại ngữ như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo lời khai của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 7, Người có thể nói được 6 thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga. Tuy nhiên trên thực tế, Người còn có thể sử dụng các ngoại ngữ khác như tiếng Thái, tiếng Tây Ban Nha, Tiệp Khắc, Ả Rập... Để có được khả năng sử dụng nhiều ngôn ngữ như vậy, ngoài trí thông minh xuất chúng còn cần phải có một ý chí rèn luyện không mệt mỏi và một quyết tâm thực hiện cho được mục đích mà Người đã xác định rõ ràng từ trước.

    Rời Tổ quốc ra đi với hai bàn tay trắng cùng vốn tiếng Pháp ít ỏi học được từ trong nhà trường, Bác đã làm nhiều công việc cực nhọc để có tiền nuôi sống bản thân. Nhưng điều kiện sống khó khăn không làm giảm đi khát khao tìm tòi, học hỏi của một người Việt Nam yêu nước. Nhận thức được tầm quan trọng của ngoại ngữ trong giao tiếp và hoạt động cách mạng, mỗi ngày Người đều dành thời gian để tự học thêm tiếng Pháp. Người học từ trong công việc hằng ngày, từ những người đồng nghiệp xung quanh mình. Phương pháp học của Bác cũng rất đơn giản và hiệu quả: Muốn biết một vật nào đó tiếng Pháp gọi là gì, Bác chỉ vật ấy rồi hỏi, xong viết vào mảnh giấy, dán vào chỗ hay để ý nhất để vừa làm việc vừa học được. Có khi viết chữ vào cánh tay, tối đi làm về Bác rửa tay rồi lại viết các chữ khác. Học được chữ nào Bác ghép câu dùng ngay. Khi vốn từ vựng đã được bổ sung đáng kể, Bác bắt đầu học viết báo với sự giúp đỡ của đồng chí Giăng Lông-ghê là chủ nhiệm báo “Người bình dân” (Le Populaire) - cơ quan của Đảng Xã hội Pháp. Từ những mẩu tin ngắn, Bác tập viết những bài dài cả cột báo hoặc dài hơn. Dần dần Người đã viết được truyện ngắn và cả những vở kịch bằng tiếng Pháp. Sau này Người còn làm chủ bút, chủ nhiệm của tờ báo “Người cùng khổ” (Le Paria). Có thể kể ra đây một số bài báo, tác phẩm tiêu biểu Bác đã viết bằng tiếng Pháp trong giai đoạn này như: “Bản án chế độ thực dân Pháp”; “Vấn đề bản xứ”; “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”; “Vi hành”... hay những vở kịch với lối viết châm biếm, sâu cay với tác phẩm tiêu biểu là “Con Rồng tre” và đặc biệt là bản “Yêu sách của người dân An Nam”. Bản yêu sách với lời văn ngắn gọn, kết cấu chặt chẽ, nội dung thẳng thắn, rõ ràng được Người gửi đến Hội nghị Vécxay năm 1919 để đòi hỏi các quyền cơ bản cho người dân nước mình đã gây một tiếng vang trong nhân dân Việt Nam và nhân dân các thuộc địa Pháp. Nhờ thông thạo tiếng Pháp Người tiếp cận được với bản “Sơ thảo lần thứ nhất những vấn đề về dân tộc và thuộc địa” của Lênin qua tờ báo “Nhân đạo” (L' Humanité) tháng 7 năm 1920, từ đó tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng cho dân tộc mình, đồng bào mình. Khả năng sử dụng tiếng Pháp đã hỗ trợ đắc lực cho Người trong quá trình đấu tranh đòi các quyền bình đẳng cho dân tộc mình cũng như những người dân bị áp bức bóc lột trên thế giới và khuyến khích Người tham gia hoạt động cách mạng tích cực và hăng hái hơn. Người đã tận dụng được ngôn ngữ của chính quốc gia đang áp bức, bóc lột dân tộc mình thành một phương tiện đắc lực để đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng cho đồng bào mình.

    Ngoài khả năng tiếng Pháp rất thông thạo, qua quá trình hoạt động cách mạng sôi nổi của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tự trau dồi nhiều ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau, trong đó có tiếng Anh. Bác đã đến và sống tại nước Anh trong một thời gian khá dài (khoảng 4 năm: từ 1913-1917) với một trong số các mục đích được xác định rõ ràng ngay từ đầu là học tiếng Anh. Tại đây, để có tiền trang trải cuộc sống và học tập, Bác đã làm rất nhiều nghề cực nhọc như: quét tuyết, đốt lò, làm phụ bếp cho khách sạn Các-lơ-tơn. Mỗi ngày Người phải làm việc từ 9 đến 10 tiếng đồng hồ trong điều kiện ăn mặc thiếu thốn nhưng Người vẫn dành một khoản tiền ít ỏi kiếm được để đi học tiếng Anh vào ngày nghỉ hằng tuần. Nhờ quá trình học tập kiên trì Người đã có thể sử dụng tiếng Anh khá thành thục và từ đó Người bắt đầu tiếp cận những tác phẩm văn học nổi tiếng viết bằng tiếng Anh, nghiên cứu lịch sử thế giới và suy nghĩ về tương lai của các dân tộc thuộc địa. Qua nhiều tư liệu cho thấy Bác nói giỏi tiếng Anh, thông thạo văn hoá và lịch sử Anh, Mỹ. Bác đã dịch nhiều đoạn, nhiều câu rút trong báo chí Anh, Mỹ và các nước khác để đưa vào tiểu phẩm của mình.

    Đặt chân lên đất nước Liên Xô năm 1923, Bác bắt đầu ngay việc học tiếng Nga. Trải qua bao nhiêu hiểm nguy, gian lao, trong một thời gian ngắn, Bác đã nghe và nói được một số câu thường dùng trong đời sống hàng ngày. Ý chí quyết tâm đó đã làm cho các đồng chí của Bác phải ngạc nhiên. Với tinh thần ham học hỏi mà trong khoảng 5 năm ở Liên Xô, Bác có thể nắm được khá thành thạo tiếng Nga, thứ tiếng mà nói chung không gần gũi nhiều với tiếng Việt. Bằng vốn tiếng Nga tự học và tự tích luỹ được, Bác tham gia hoạt động trong Hội đồng Quốc tế Nông dân và vào học trường Đại học Phương Đông trực thuộc Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Sau này Người tham gia lớp nghiên cứu sinh Ban Sử học của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, và Bác cũng đồng thời nhận phiên dịch tài liệu từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Cũng trong thời gian sống và hoạt động trên đất nước Lênin, Bác viết rất nhiều bài cho một số tờ báo như “Đời sống công nhân Ba-kin-xki”, “Tiếng còi”, “Tạp chí đỏ”, “Thời mới”, “Sự thật”...Người đã đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người, nhiều tầng lớp trên đất nước rộng lớn nhất thế giới này vì thế mà khả năng sử dụng tiếng Nga của Người ngày càng thuần thục. Một đồng chí của Bác ở Matxcơva từng nhận xét: “Từ trước đến nay, những người nổi tiếng trên thế giới đến Liên Xô mà nói được tiếng Nga có đồng chí Mo-rít Tô-rê (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp), nhà nghệ sĩ da đen người Mỹ Pôn Rốp-sơn và nay có đồng chí Hồ Chí Minh nữa là người thứ ba”(1).

    Cuối năm 1924, Bác sang Trung Quốc hoạt động. Vốn Hán học được học hành từ thuở nhỏ cùng nhiều năm sống và hoạt động cách mạng ở Trung Quốc giúp Người rèn giũa, bồi đắp và hoàn chỉnh đến độ uyên bác. Người có thể nói được tiếng Trung Quốc phổ thông, lại có thể nói được các phương ngữ, thổ âm của họ như tiếng Quảng Đông, Quảng Châu, Thượng Hải, Vân Nam... Người viết báo, viết văn, làm thơ bằng vốn Hán học mà tập Nhật ký trong tù là một minh chứng tiêu biểu. Nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc Quách Mạc Nhược từng nhận xét về tập thơ này như sau: “Có một số bài rất hay, nếu xếp chung vào một số bài thơ Đường, Tống e cũng không dễ gì nhận ra”. Nhận xét đó cho thấy trình độ Hán học cũng như thi tài của Bác đã đạt đến mức độ uyên thâm như thế nào. Khi trở về Tổ quốc hoạt động, Bác đã dịch, biên dịch hoặc biên soạn được nhiều tài liệu tiếng Trung nhằm phục vụ kịp thời cho cách mạng như: Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô, Phép dùng binh của Tôn Tử; Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Vlinh... Người sử dụng tiếng Hán như một công cụ lợi hại, với kẻ thù là một vũ khí sắc bén nên lắm khi ứng đối với kẻ địch Bác làm chúng bối rối, với bạn bè, anh em thì đó lại là một chiếc cầu nối hữu nghị để tăng cường hiểu biết, cảm thông nhau hơn. Có thể khẳng định, nhờ vốn Hán ngữ, Người đã xây dựng được một mối quan hệ gắn bó thân thiết, bền chặt giữa nhân dân Trung Quốc và Việt Nam.

    Ngoài các thứ tiếng kể trên, Bác Hồ còn học nhiều thứ tiếng của các dân tộc khác trong suốt hành trình đi tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng. Năm 1923, trên đường đi công tác, tuy chỉ ghé qua thủ đô Béclin trong một thời gian ngắn nhưng Bác vẫn tranh thủ học tiếng Đức. Lúc học, Bác mua báo Đức để tập đọc. Vì hồi đó nước Đức đang bị nạn đói nghiêm trọng và lạm phát tồi tệ nên Bác nói: “Tiền mua một tờ báo lúc đó trải rộng ra bằng cả tờ báo”. Nhờ kinh nghiệm từng học qua nhiều ngoại ngữ nên Bác học tiếng Đức khá nhanh và phản xạ khá nhạy bén. Trong thời gian ngắn ngủi ở Đức, Người đã hoàn thành xong phần cơ bản của tiếng Đức. Khi có điều kiện thăm lại nước Đức gần 40 năm sau đó, Bác vẫn có thể nói chuyện với các bạn Đức thành thạo và điều này đã làm cho họ vô cùng ngạc nhiên và thích thú. Hành trình đi tìm đường cứu nước còn đưa Người đi qua các nước Tây Ban Nha, Ý, Thái Lan, Tiệp Khắc và một số nước khác, đến đâu Bác cũng tranh thủ học một ít tiếng nước đó để tiện chủ động trong giao tiếp và công việc. Nhờ đức tính ham học hỏi đó mà vốn ngoại ngữ của Bác ngày càng được phong phú. Rất nhiều nhà báo nước ngoài với những quốc tịch khác nhau đã thích thú đến ngỡ ngàng khi Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể nói với họ bằng chính ngôn ngữ nước họ. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Người về lại thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức một buổi chiêu đãi các vị khách quốc tế. Khách tham dự là người Nga, người Trung Quốc, người Pháp, người Anh và người Mỹ... Lúc đó ta chỉ có phiên dịch tiếng Pháp là chủ yếu. Biết làm sao trước tình huống đó. Và thật bất ngờ, Bác ra hiệu cho đồng chí phiên dịch không phải dịch nữa rồi Người “ngồi nghe đồng chí phóng viên báo “Sự thật” (Liên Xô) nói chuyện. Đôi khi Bác trả lời lại bằng tiếng Nga. Thỉnh thoảng Người còn nói chuyện bằng tiếng Ý với phóng viên tạp chí “Đoàn kết” (Unita), cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Ý; bằng tiếng Anh với phóng viên báo “Công nhân”, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Mỹ. Tất cả mọi người có mặt hôm ấy đều tỏ vẻ ngạc nhiên, khâm phục. Dường như đoán được điều đó, Bác mỉm cười nói bằng tiếng Pháp...”(2).

    Với cương vị Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc, nhất là những năm chống Pháp, chống Mỹ gian khổ, Người vẫn nghe đài, đọc báo của nước ngoài để nắm vững tình hình, cùng bộ tham mưu của mình vạch chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn và sáng suốt. Theo nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan, người từng là phiên dịch viên cho các lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước thì vị Chủ tịch của nước Việt Nam cho đến khi ngoài 70 tuổi vẫn còn chăm học ngoại ngữ. Bác học mọi nơi, mọi lúc có thể. Nguyên Phó thủ tướng hồi tưởng: “Có lần Bác nói mình vốn biết tiếng Nga nhưng do lâu năm không sử dụng nên vốn từ vựng bị rơi rụng, thành ra giờ phải học lại. Bác để một mảnh giấy trong hộp thuốc, trên mảnh giấy ghi 10 từ tiếng Nga. Cứ mỗi lần mở hộp thuốc lấy một điếu là Bác lại nhẩm đọc từ mới. Mỗi ngày 10 từ, cho là rơi rụng đi thì mỗi ngày cũng học được 5 - 7 từ...”. “Cả đời tôi gặp biết bao nhiêu người nhưng chưa thấy ai chăm học ngoại ngữ như Bác Hồ cả”, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan thán phục.

    Cũng theo nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan, Bác Hồ rất giỏi tiếng Anh: “Có lần lên dịch ở Phủ Chủ tịch, nghe Bác nói tiếng Anh với khách mà tôi thấy sợ, Bác nói giỏi quá. Sau tôi có đọc lại những lá thư Bác Hồ viết cho Quốc tế cộng sản bằng tiếng Anh, viết rất chuẩn. Thế ra tiếng Anh của Bác rất giỏi chứ không như người ta nghĩ Bác chỉ giỏi tiếng Pháp đâu”.

    Về tiếng Trung Quốc, nguyên Phó thủ tướng cho biết Bác Hồ nói tiếng Trung Quốc giọng Quảng Đông chứ không phải giọng Bắc Kinh nhưng vốn chữ Hán của Bác lại rất thâm hậu. Có lần Thủ tướng Chu Ân Lai sang Việt Nam, ông phiên dịch trông thấy Bác và Chu Ân Lai nói chuyện trực tiếp thì “ngất luôn” vì sợ. “Có lần đến sứ quán Liên Xô, trông thấy Bác, ông phiên dịch cứng lưỡi, không dịch được. Đời tôi thấy 2 người rồi, một ông Nga, một ông Trung Quốc, trông thấy Bác Hồ là “xỉu”, không dịch được”, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan chia sẻ.

    Khả năng học ngoại ngữ của Bác không phải là do thiên bẩm mà là kết quả của một quá trình khổ luyện với một ý chí quyết tâm không mệt mỏi. Bác đặt ra cho mình một mục tiêu rõ ràng khi học ngoại ngữ: Học là để giao tiếp, để tăng cường hiểu biết, để hoạt động cách mạng, để giúp ích cho dân tộc mình, cho đồng bào mình và mục tiêu này cũng là một động lực to lớn giúp Người học thành công. Bác học Ngoại ngữ và sử dụng ngoại ngữ một cách có hiệu quả: Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, ngôn ngữ của các nước khác nhau đã giúp Người học hỏi được nền văn hoá của nước đó, hoà mình vào đời sống công nhân và phong trào cách mạng của họ, liên kết các phong trào công nhân lại thành một mặt trận thống nhất nhằm tạo một sức mạnh đoàn kết chống lại kẻ thù chung là các nước đế quốc, thực dân. Khi cách mạng thành công, ngoại ngữ góp phần đắc lực giúp Người xây dựng và mở rộng các mối quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, tăng cường sự giúp đỡ, ủng hộ của cộng đồng yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.

    Là người thông thạo nhiều thứ tiếng trên thế giới như vậy nhưng Bác luôn có ý thức trân trọng, giữ gìn tiếng nói của dân tộc mình bởi theo Bác ngôn ngữ là một phần văn hoá, bản sắc của dân tộc. Trong Đại hội lần thứ ba Hội nhà báo Việt Nam ngày 8/9/1962, Người căn dặn: ''“Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quí báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quí trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”. Chủ tịch Hồ Chí Minh ủng hộ việc tiếp thu một số từ ngữ từ tiếng nước ngoài mà tiếng Việt không có để làm giàu cho vốn ngôn ngữ dân tộc. Tuy nhiên, Người phê phán hiện tượng lạm dụng tiếng nước ngoài, sính dùng từ nước ngoài để “khoe chữ” trong khi những từ đó đã có trong tiếng Việt. Bản thân Người khi nói và viết bao giờ cũng cố gắng sử dụng những từ ngữ tiếng Việt sẵn có thay vì dùng các từ ngữ có nguồn gốc từ nước ngoài, hoặc Việt hoá nhiều từ ngữ nước ngoài. Người thường xuyên vận dụng tục ngữ, thành ngữ, ca dao, Truyện Kiều vào những bài nói, bài viết của mình, tạo nên sự gần gũi, giản dị mà cũng hàm chứa được những điều hết sức sâu xa. Và trong suốt cuộc đời mình, Người tỉ mỉ uốn nắn cách nói, cách viết của đồng chí, đồng bào nhằm giữ gìn sự trong sáng, chuẩn mực của tiếng Việt.

    Trong thời kỳ hội nhập sâu rộng như ngày nay, khả năng sử dụng thông thạo ít nhất là một ngoại ngữ là một yêu cầu gần như là bắt buộc đối với mỗi người, nhất là đối với tầng lớp thanh niên, học sinh, cán bộ, công chức, người lao động, bởi chúng ta sẽ không thể nào hội nhập được nếu không tự trang bị cho mình một phương tiện để giao tiếp với thế giới đó là ngôn ngữ. Với sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện thông tin truyền thông hiện đại, ngày nay chúng ta có đầy đủ các điều kiện để học ngoại ngữ tốt, tuy nhiên đối với một số người thì việc học ngoại ngữ vẫn được xem là một việc khó khăn và họ thường đổ lỗi là do mình không có đủ “năng khiếu” để nguỵ biện cho sự thiếu quyết tâm, tính kiên nhẫn và một phương pháp học đúng đắn. Tấm gương học ngoại ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nghị lực không mệt mỏi, tinh thần chủ động và phương pháp học hiệu quả là những điều chúng ta cần noi theo. Nếu như trước đây mong muốn tìm ra con đường cứu nước, cứu dân là động lực to lớn thôi thúc Bác vượt qua muôn ngàn trở ngại để học ngoại ngữ thành công thì thời đại ngày nay chúng ta biến động lực này thành quyết tâm học ngoại ngữ để phát triển đất nước, hội nhập với thế giới, đưa Việt Nam sánh ngang tầm với các nước phát triển trong khu vực và thế giới. Đây cũng chính là một hành động tích cực ủng hộ cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và thiết thực góp phần thực hiện những điều mà Bác Hồ suốt cuộc đời hằng mong muốn.

    Chú thích:

    1.            Kể chuyện Bác Hồ, tập 2, Nxb. Giáo dục

    2.            Kể chuyện Bác Hồ, tập 2, Nxb. Giáo dục

     

    BTG-TĐBN(st)

  • Bác Hồ với người cao tuổi

    25/03/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Để tập hợp lực lượng toàn dân thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, ngày 06/6/1941, Người ra lời kêu gọi “Kính cáo đồng bào”, câu đầu tiên Người viết: “Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡi các hiền nhân, chí sĩ! Hỡi các bạn, sĩ, nông, công, thương, binh!”(1). Điều đó đã khẳng định tầm ảnh hưởng to lớn của người cao tuổi trong xây dựng khối đoàn kết toàn dân, thực hiện nhiệm vụ đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian để giành tự do, độc lập cho Tổ quốc. Thực tiễn đã chứng minh vai trò của người cao tuổi đối với sự nghiệp cách mạng và trong xã hội. Trong kháng chiến, họ chính là những chiến sĩ du kích già với “tay chống gậy, tay cầm dao giết giặc cứu nước” luôn đi đầu và sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do. Trong kiến quốc, người cao tuổi là những chiến sĩ trên mặt trận “diệt giặc dốt, giặc đói”, động viên con cháu hăng say lao động sản xuất, xây dựng đời sống mới, tích cực động viên con cháu lên đường nhập ngũ tham gia kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.

    Cùng ngày 06/6/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão”. Người viết: “Trách nhiệm của các cụ phụ lão chúng ta với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại. Đất nước hưng thịnh do phụ lão xây dựng. Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Đất nước bị mất, phụ lão cứu. Đất nước suy sụp, phụ lão phù trì”(2). Từng câu từng chữ của Người đều thể hiện tình cảm yêu mến, quan tâm sâu sắc cũng như sự tin tưởng mà Bác Hồ dành cho người cao tuổi. Lời hiệu triệu đó đã đem đến cho người cao tuổi nguồn động viên mạnh mẽ. Lớp lớp người cao tuổi đã phát huy truyền thống vẻ vang, hăng hái tham gia kháng chiến kiến quốc, góp phần to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

    Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 21/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các cụ phụ lão. Trong thư, Người phản bác một quan niệm cũ rất sai lầm cho rằng “Lão lai tài tận, lão giả an chi” tức “Tuổi già thì tài hết, người già nên ở yên”(3). Bác nhắc lại truyền thống yêu nước của người Việt Nam ngày xưa với tấm gương Lý Thường Kiệt là tiêu biểu, càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng. Bác còn chỉ rõ: “Người già không làm được công việc nặng nề thì khua gậy đi trước, động viên khuyến khích thanh niên và san sẻ kinh nghiệm của chúng ta cho họ”(4). Người chỉ rõ: Đối với người cao tuổi, tuy sức khỏe không bằng lúc còn trẻ nhưng có những mặt mạnh cơ bản, đó là: Có lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc; tuổi càng cao chí càng cao; tích lũy được vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng phong phú; có sự tín nhiệm cao. Cuối thư, Người kêu gọi: “Chúng ta là bậc phụ lão, cần phải tinh thần đoàn kết trước để làm gương cho con cháu ta. Vậy tôi mong các vị phụ lão ở Hà thành ra xung phong tổ chức “Phụ lão cứu quốc Hội” để cho các phụ lão cả nước bắt chước và để hùn sức giữ gìn nền độc lập của nước nhà”(5). Bức thư này của Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm động viên rất lớn đối với các bậc cao niên lúc bấy giờ. Trên cả nước, có biết bao các cụ đã đứng ra gánh vác việc nước, đảm đương nhiều trọng trách từ những ngày đầu, năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.

    Có thể nói vấn đề cốt lõi trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cao tuổi đó là sự kính trọng, tôn vinh và đặt niềm tin sâu sắc của Người đối với người cao tuổi. Người nói: “Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão đã có trọng trách là bậc tôn trưởng, đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao. Phụ lão hô, Nhân dân hưởng ứng; phụ lão làm, Nhân dân làm theo. Hô điều nên hô, làm việc nên làm”(6). Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở mọi người, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải cung kính với các cụ già. Bác Hồ không những kính trọng người già mà còn đặc biệt quan tâm, trọng dụng những người cao tuổi tham gia góp công cho đất nước. Trong những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Bác đã mời những bậc cao niên, tài trí, đức độ tham gia chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như cụ Huỳnh Thúc Kháng (sinh năm 1876), cụ Tôn Đức Thắng (sinh năm 1888), cụ Võ Liêm Sơn (sinh năm 1889), cụ Vũ Đình Tụng (sinh năm 1895)...

    Trong suốt thời kỳ kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm theo dõi những hoạt động và thành tích của phụ lão khắp mọi nơi. Mỗi chiến công hay những việc làm có ý nghĩa của người cao tuổi đều được Người biểu dương, khen ngợi một cách kịp thời và trân trọng. Ngày 21/10/1947, Bác viết thư khen hai cụ già du kích Kiến An có thành tích giết giặc:“Hai cụ thật xứng đáng với tổ tiên oanh liệt của ta, các cụ phụ lão đời Trần đời Lê, chẳng những kêu gọi con cháu, mà tự mình hăng hái tay chống gậy, tay cầm dao giết giặc cứu nước”(7). Tháng 3/1948, Bác viết thư cho lão du kích Đỗ Như Thìn, làng Tuấn Kiệt, tỉnh Hải Dương, vừa khen ngợi cụ Thìn vừa động viên toàn thể anh chị em du kích để họ học tập những sáng kiến và theo gương dũng cảm của cụ Thìn, giết được nhiều giặc. Trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, khi được tin chiến thắng từ mặt trận, Người đã viết một bài thơ tặng cụ Bùi Bằng Đoàn - nguyên Thượng thư Bộ hình triều Nguyễn, một nhân sĩ trí thức yêu nước, lúc ấy là Trưởng ban Thường trực Quốc hội những vần thơ bằng chữ Hán rất trang trọng mà vẫn đầm ấm tình nghĩa:

    “Xem sách, chim rừng vào cửa đậu, Phê văn, hoa núi chiếu nghiên soi Tin vui thắng trận dồn chân ngựa, Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài”.

    Lòng kính trọng của Bác Hồ đối với người cao tuổi không chỉ thể hiện trong nhiều bài viết, bài nói, mà đã lan tỏa trong mọi việc làm, mọi cử chỉ của Bác. Năm 1948, được biết cụ Phùng Lục - Phụ lão cứu quốc ở huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) thọ 80 tuổi, không tổ chức tế lễ linh đình, đã mang 500 đồng tiền mừng thọ giúp vào quỹ kháng chiến, Bác Hồ đã viết thư chúc mừng và cảm ơn. Trong thư, Bác kính trọng, khiêm tốn xưng cháu với cụ Lục: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ”. Đây chỉ là một trong rất nhiều sự việc thể hiện sự kính trọng của Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đối với người cao tuổi.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gửi rất nhiều lời chúc mừng, tặng huy hiệu, tặng lụa tới người cao tuổi có thành tích kháng chiến và sản xuất. Người thường xuyên khuyến khích, động viên người cao tuổi phải tự mình học tập, nâng cao dân trí, tích cực tham gia vào đời sống xã hội, vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước, trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo, để“chẳng những làm kiểu mẫu, siêng năng cho con cháu mà còn tỏ ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam”.

    Ngày 27 và 28/3/1964, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị chính trị đặc biệt, theo quyết định triệu tập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm đáp ứng yêu cầu khẩn cấp lúc đó là tăng cường hơn nữa sự đoàn kết nhất trí của toàn dân trước âm mưu giặc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, ồ ạt đưa quân đội các nước đồng minh vào miền Nam Việt Nam. Trong 300 đại biểu của Hội nghị đặc biệt thì có gần một nửa là đại biểu người cao tuổi, đa phần là nhân sĩ, trí thức, Công giáo yêu nước tham dự. Trong báo cáo chính trị đọc tại Hội nghị, Bác Hồ nhấn mạnh, tôn vinh những người cao tuổi: “Chúng ta tự hào có nhiều cụ ông, cụ bà ngoài 70, 80 tuổi vẫn hăng hái học tập và lao động, lập ra những đội “Bạch đầu quân” trồng cây gây rừng, đôn đốc phong trào bình dân học vụ và vận động vệ sinh phòng bệnh”(8).

    Bên cạnh việc khen ngợi, động viên những việc làm tốt của người cao tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng phê phán thái độ tự ti của những cán bộ lớn tuổi, cho rằng mình không còn khả năng tiến bộ nữa, không thể học hành và cống hiến nữa. Đến với lớp huấn luyện đảng viên mới vào ngày 14/5/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng. 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì phải học, còn phải hoạt động cách mạng”(9).

    Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng về “tuổi cao chí khí càng cao”, vì nước, vì dân, vì sự nghiệp cách mạng quên cả tuổi già, quên cả bản thân. Năm 1964, khi đã ở tuổi 74 “xưa nay hiếm”, trong bài phát biểu bế mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa III, Người vẫn lạc quan nói rằng: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, chúng tôi sẽ luôn cố gắng làm tròn trách nhiệm của mình, quyết không phụ lòng tin cậy của đồng bào và Quốc hội. Về phần tôi: Bảy mươi tư tuổi vẫn không già. Cố gắng làm tròn nhiệm vụ ta”. Ngày 20/5/1968, khi 78 tuổi, trong không khí tổng tiến công như vũ bão của Tết Mậu Thân, Bác cảm hứng viết bài thơ về tuổi tác của mình với một tinh thần lạc quan, hứng khởi: “Bảy mươi tám tuổi, chưa già lắm, vẫn giữ hai vai việc nước nhà Kháng chiến dân ta đang thắng lớn, Tiến bước! Ta cùng con em ta”(10).

    Đã hơn 50 năm từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, những hình ảnh của Người luôn khắc sâu trong tâm trí, trái tim của dân tộc và những người cao tuổi. Thời gian không ngừng trôi, người cao tuổi Việt Nam vẫn luôn nhớ về những lời dạy của Bác để không ngừng cố gắng, nỗ lực đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Ngày nay Đảng, Nhà nước luôn quan tâm nhiều đến người cao tuổi. Bên cạnh Luật Người cao tuổi, các chế độ ưu tiên dành cho người cao tuổi ngày càng được xây dựng và chú ý thực hiện trong thực tế. Càng ngày người cao tuổi càng có nhiều cơ hội hoạt động, tích cực xung kích, đi đầu, nêu gương để tạo sức lôi cuốn cho các tầng lớp khác trong xã hội.

    Thực tế, người cao tuổi ở nước ta nói chung đều trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Họ là những người lao động, quân nhân, cán bộ, những trí thức, văn nghệ sĩ... đã từng cống hiến sức mình cho sự nghiệp cách mạng. Cuộc đời của họ gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Trải qua thời gian, họ vẫn luôn giữ được sự trung thành với cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống giản dị, tiếp tục cống hiến, là tấm gương sáng cho con cháu noi theo. Trong số những người cao tuổi có nhiều người có trình độ học vấn cao, trình độ chuyên môn kỹ thuật giỏi, có những văn nghệ sĩ, những nhà cách mạng, nhà quân sự có năng lực giỏi và nhiều kinh nghiệm, tiếp tục có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Hơn nữa, về mặt số lượng, người cao tuổi ở nước ta ngày càng đông, chiếm phần không nhỏ trong cơ cấu dân số. Vì vậy, vai trò của người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Họ chính là lá cờ đầu dẫn dắt các thế hệ đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước, thực hiện theo đúng mong mỏi lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Chú thích:

    1.       Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 3, tr.229.

    2.       Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 3, tr.232.

    3.       4, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.23, 24.

    6.       Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 3, tr.233.

    7.       Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.266.

    8.       Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 14, tr.276.

    9.       Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.113.

    10.     Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.458.

     

    BTG_TĐBN(st)

  • Độc lập, tự chủ, sáng tạo – Nét độc đáo trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh

    23/03/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta và đi vào lịch sử nhân loại như một trong những vĩ nhân có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ XX. Điều làm nên sự vĩ đại, nhưng gần gũi, giản dị của Hồ Chí Minh là ở nhân cách, đạo đức, tài năng, những cống hiến của Người cho dân tộc và nhân loại. Một trong những di sản mà Người để lại là phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo - cơ sở, tiền đề cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

  • Nhân lên những giá trị tốt đẹp từ tư tưởng Hồ Chí Minh

    17/03/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị trong nhiều năm qua đã từng bước tạo chuyển biến tích cực về nhận thức, hành động trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân.

  • Hồ Chí Minh – Người là nguồn cảm hứng muôn đời!

    10/03/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến cả đời mình cho độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam và nhân dân các dân tộc bị áp bức như khẳng định của tiến sĩ Modagat Ahmet - Giám đốc UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: Hồ Chí Minh là một trong “ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”[1].