khach san bac ninh

  • Hồ Chí Minh trong mắt giới nghiên cứu phương Tây

    22/06/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Từ nghiên cứu công bố vào năm 2000, W.J.Duiker đã đặt ra vấn đề có hay không hiện tượng “sùng bái Hồ Chí Minh”?. Ông và nhiều nhà nghiên cứu đều ghi nhận: Hồ Chí Minh được kính trọng, được ca tụng và nể phục ngay từ khi Người còn sống, và không chỉ ở Việt Nam và bởi nhân dân Việt Nam mà còn ở cả nước ngoài...

  • Báo chí – “Vũ khí” tư tưởng sắc bén của các nhà cách mạng

    16/06/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Tiếp cận ở chức năng tư tưởng của báo chí cho thấy, báo chí là phương tiện làm công tác tư tưởng rất lợi hại. Thông tin báo chí tác động vào tư tưởng, tình cảm của quần chúng, từ đó làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng. Chính vì vậy, các nhà cách mạng, nhà hoạt động chính trị đều nắm lấy báo chí để làm vũ khí tư tưởng.

  • Giải phóng phụ nữ là giá trị nhân văn trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

    14/06/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc luôn bao hàm khát vọng vươn lên của phụ nữ. Bởi lẽ, “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa1. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ những trải nghiệm của Người - vị anh hùng giải phóng dân tộc suốt đời đấu tranh cho mục tiêu cao cả: Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người, trong đó có giải phóng phụ nữ.

    1. Thực hiện giải phóng phụ nữ là nhằm xóa bỏ tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, xóa bỏ bất bình đẳng nam nữ, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy hết khả năng của mình, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Theo Hồ Chí Minh “không có phụ nữ, riêng nam giới không thể làm nổi công cuộc cách mạng”2. Vì vậy, Người luôn coi giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, là cơ sở quan trọng để bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ được thực hiện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

    gia tri nhan van 1
    Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với đại biểu phụ nữ các dân tộc thiểu số Tây Bắc năm 1959.
    Ảnh tư liệu

    Trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh chứng kiến nhiều cảnh phụ nữ ở các nước, nhất là các thuộc địa, bị đối xử bất công, bị bóc lột, chà đạp một cách tàn nhẫn. Khi đến đất nước của tượng Nữ thần tự do, Người đã nhận thấy sự cách biệt về quyền con người ở Mỹ: Ánh sáng trên đầu tượng Nữ thần Tự do tỏa trên bầu trời xanh, còn dưới chân tượng Nữ thần Tự do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen mới có sự bình đẳng với người da trắng, bao giờ phụ nữ được bình đẳng với nam giới. Hồ Chí Minh nung nấu hoài bão làm sao để phụ nữ nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng thoát khỏi áp bức, bất công của chế độ thuộc địa. Chỉ có giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người triệt để mới mang lại quyền tự do thật sự cho con người, tạo tiền đề thực hiện bình đẳng nam nữ và mang lại sự tiến bộ cho phụ nữ. Vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Tiến sỹ M.At-mét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương khẳng định: “Trong khi chiến đấu cả đời mình chống lại ách thống trị thực dân, Người vẫn là một nhà nhân văn chân chính trong tư tưởng và hành động”.                                                                                      

    Hồ Chí Minh cho rằng, phụ nữ có quyền tham gia mọi hoạt động chính trị một cách bình đẳng như nam giới, có quyền bầu cử, ứng cử, có quyền tự do ngôn luận, đi lại, cư trú và quyền bình đẳng trước pháp luật. Điều 6 Hiến pháp năm 1946 do Người là Trưởng Ban soạn thảo ghi rõ: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”. Cụ thể hơn về quyền lợi, Điều 9 ghi: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Phát biểu tại phiên họp bế mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập… phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”4. Bình đẳng với nam giới về mọi phương diện, Hiến pháp năm 1946 mở ra cho phụ nữ một thời đại mới - thời đại người phụ nữ được làm chủ cuộc sống của mình, được tham gia các hoạt động xây dựng và kiến thiết đất nước - những quyền và nghĩa vụ mà người phụ nữ chưa từng được thừa hưởng trong các chế độ xã hội trước. Những quyền bình đẳng đó tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1959. Song song với việc ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trên các mặt của đời sống xã hội, Hiến pháp năm 1959 đã quy định các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện quyền bình đẳng trên thực tế và nhấn mạnh đến quyền bình đẳng về việc hưởng thụ các thành quả của phát triển.

    Những quy định về quyền bình đẳng nam nữ được ghi trong Hiến pháp, pháp luật đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam và thể hiện tính nhân văn, tầm nhìn vượt thời đại, tư duy chính trị sắc sảo của Hồ Chí Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực. Từ đây, người phụ nữ có cơ sở pháp lý để đấu tranh đòi bảo đảm những quyền bình đẳng này trong cuộc sống của mình.

    Để xóa bỏ sự lệ thuộc của phụ nữ về kinh tế cần giải phóng sức lao động cho họ, đưa họ tham gia vào các ngành nghề khác nhau như công nghiệp, thương nghiệp, văn hóa, giáo dục, y tế… Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ. Đồng thời, Người yêu cầu các sở, ban, ngành phải lập nhà trẻ, nhà ăn để phụ nữ yên tâm công tác, yên tâm lao động sản xuất. Bởi lẽ, muốn cho người mẹ sản xuất tốt thì cần tổ chức tốt những nơi gửi trẻ và những lớp mẫu giáo; kinh tế của ta càng phát triển, nhà ăn công cộng càng thêm nhiều, phụ nữ sẽ rảnh rang để tham gia lao động. Như vậy phụ nữ mới được giải phóng, nam nữ mới thật là bình quyền. Thực tiễn cho thấy, thực hiện bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực kinh tế không chỉ tạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội phát triển tài năng, trí tuệ mà còn đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Nhận xét về khả năng làm kinh tế của phụ nữ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng”5, là đội quân chủ lực tạo ra của cải vật chất, làm giàu cho đất nước. Từ đó Người kết luận: Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ.

    Việc phụ nữ tham gia hoạt động sản xuất xã hội được Ph.Ăng-ghen coi là điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ. Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới những nét đặc thù riêng của phụ nữ, đề ra những chính sách ưu đãi đối với phụ nữ để họ có điều kiện tham gia các hoạt động xã hội như nam giới, giải phóng họ khỏi gánh nặng công việc gia đình. Đồng thời, Người còn tuyên truyền, giác ngộ để mọi người nhận thức rõ hơn vai trò của phụ nữ trong xã hội, vận động mọi người cùng nhau giúp đỡ để phụ nữ vươn lên khẳng định địa vị của mình, tạo cơ sở cho việc thực hiện bình đẳng nam nữ trong xã hội. Người lên án, phê phán các hiện tượng phân biệt đối xử với phụ nữ, nạn bạo lực gia đình, cho đó là một điều đáng xấu hổ: “Như thế thì còn gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là cực kỳ dã man”, vì vậy mà “Chi bộ đảng phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hòa thuận trong gia đình”6. Bình đẳng nam nữ trong gia đình chính là cơ sở cho bình đẳng nam nữ ngoài xã hội. Bởi khi được quan tâm, chia sẻ công việc trong gia đình và được tạo điều kiện thuận lợi, người phụ nữ sẽ có điều kiện tham gia công tác xã hội để phát huy hết tài năng, trí tuệ của mình.

    Để được giải phóng, phụ nữ cần phải học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt, phải gắng học tập chính trị, học tập văn hóa, kỹ thuật, bản thân phụ nữ phải đấu tranh, tự cường, tự lập để giữ lấy quyền lợi của mình. Đó là chìa khóa của sự nghiệp tranh quyền cho phụ nữ. Bởi không có kiến thức, không nhận biết được pháp luật và quyền lợi của giới mình thì sẽ không tự giải phóng và phát huy được quyền của mình trong các hoạt động, cũng như trong cuộc sống. Chỉ có nỗ lực, cố gắng, phụ nữ mới tạo ra động lực để vươn lên khẳng định vai trò, vị trí của mình trong xã hội.

    2. Thực hiện bình đẳng nam nữ, giải phóng phụ nữ là một cuộc cách mạng khó. Vì vậy, trong “Di chúc”, Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo”.

    Thực hiện căn dặn của Người, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách với những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào mọi mặt của đời sống xã hội. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm quyền của phụ nữ được ra đời, trong đó Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua ngày 29-11-2006 đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Điều 4 của Luật Bình đẳng giới ghi rõ: “Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”.  Đặc biệt, tại điều 26 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội”. Việc cụ thể hóa quyền bình đẳng nam nữ bằng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất, bảo hộ sức khỏe, giảm nhẹ gánh nặng gia đình. Đánh giá tầm quan trọng của bình đẳng giới trong phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ Việt Nam khẳng định bình đẳng giới là yếu tố tiền đề để xây dựng một nguồn nhân lực vững mạnh, cũng như đẩy mạnh chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình và toàn xã hội. Đồng thời, Chính phủ xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững. Giảm thiểu, tiến tới chấm dứt các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái trong mọi lĩnh vực và ở mọi nơi. Giảm đáng kể mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái nơi công cộng hoặc nơi riêng tư. Bảo đảm sự tham gia đầy đủ, hiệu quả và cơ hội bình đẳng tham gia lãnh đạo của phụ nữ ở tất cả các cấp hoạch định chính sách trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội… Để thực hiện kế hoạch đó cần phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ, trong đó có sự đồng tình, tham gia, ủng hộ của nam giới. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tăng cường các chương trình phát triển, hỗ trợ cập nhật tri thức, kỹ năng cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới. Kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em.

    Trong Nghị quyết về Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chính phủ xác định mục tiêu cụ thể trong các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% lãnh đạo chủ chốt là nữ. Trong lĩnh vực kinh tế, lao động, tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương lên 50% vào năm 2025 và khoảng 60% vào năm 2030. Giảm tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp xuống dưới 30% vào năm 2025 và dưới 25% vào năm 2030. Tỷ lệ nữ giám đốc/chủ doanh nghiệp, hợp tác xã đạt ít nhất 27% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030. Trong đời sống gia đình, phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới: Giảm số giờ trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đình không được trả công của phụ nữ xuống còn 1,7 lần vào năm 2025 và 1,4 lần vào năm 2030 so với nam giới… Đây chính là sự tiếp nối, phát triển quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ và công tác phụ nữ. Đồng thời, cũng khẳng định sự quan tâm, trách nhiệm cũng như những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đặt ra để giải quyết các vấn đề về công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay.

    Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên của lịch sử Việt Nam đặt vị thế, vai trò của phụ nữ ngang với nam giới và Người cũng là một trong những lãnh tụ tiêu biểu của thế giới đề cao sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ. Nữ sử học người Mỹ J.Stenson đã nhận định, so với các lãnh tụ nổi tiếng thế giới, chỉ có Hồ Chí Minh là đã luôn luôn nói về quyền bình đẳng của phụ nữ, thấy được phụ nữ đã phải chịu những gánh nặng như nam giới và còn hơn thế. Cùng với sự phát triển của đất nước, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ ngày càng được quan tâm và coi trọng. Điều đó đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền bình đẳng giới, tạo ra một bước chuyển biến mới trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ ở Việt Nam. Đó chính là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.

     

    BTG-TĐBN (st)

  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” soi sáng công tác dân vận hiện nay

    08/06/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Sinh ra từ Nhân dân; sống và hoạt động cách mạng trong lòng dân; cuối đời lại muốn trở về với Nhân dân, Hồ Chí Minh khảm trong di sản của mình hạt ngọc lung linh tỏa sáng, đó là tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Tư tưởng đó mãi mãi soi sáng công việc của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là công tác dân vận.

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “DÂN LÀ GỐC”

    Ở nước ta, chủ nghĩa yêu nước có trước chủ nghĩa cộng sản, phong trào yêu nước có trước phong trào công nhân, lòng dân có trước ý Đảng. Đúc kết của Hồ Chí Minh: sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 cho thấy chính Nhân dân là người sinh thành ra Đảng. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã mang trong mình yếu tố dân tộc, bám rễ sâu trong lòng dân tộc. Cứ thế, Nhân dân luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng, tạo nên ý Đảng - lòng dân suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng.

    Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên nhận thức và đánh giá đúng đắn vai trò, vị trí, sức mạnh của Nhân dân với một chất lượng khoa học và cách mạng cao. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên “chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt”(1). Dân rất tốt là một chân lý, vì tuy đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh, nhưng Nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Người còn khẳng định dân chúng khôn khéo; trí tuệ và sáng kiến của quần chúng là vô cùng tận; “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh, có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn… Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”(2).

    Từ những hiểu biết đúng đắn, toàn diện về dân như vậy, Hồ Chí Minh khẳng định “dân là gốc”. Người nói: “Nước lấy dân làm gốc….Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(3). Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Gốc là tài dân, lực lượng dân, của dân, lòng dân, quyền dân, lòng tin của dân. Nói về tài trí dân, Người khẳng định “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(4). Nói về lực lượng Nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định “trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Người chỉ rõ: “Chúng ta biết rằng: lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng. Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có thì việc gì làm cũng không xong”(5). “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(6). Người thường nhắc lại câu nói của Nhân dân Quảng Bình: “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Nói về lòng dân, Hồ Chí Minh đúc kết: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác”(7), “được lòng dân, thì việc gì cũng làm được. Trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”(8).

     “Nước lấy dân làm gốc….Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” – Hồ Chí Minh

    Xuất phát từ chỗ gắn bó mật thiết với Nhân dân, sống giữa lòng dân, Hồ Chí Minh thấu hiểu đời sống, tình hình, tâm lý, tâm tư, nguyện vọng Nhân dân. Người nói dân chúng nhiều tai mắt, cái gì cũng nghe cũng thấy; dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, gọn gàng, hợp lý, công minh, “biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết”(9). Nước ta là một nước dân chủ, vì vậy, theo Hồ Chí Minh:

    “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

    Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

    Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

    Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

    Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

    Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

    Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân(10);

    “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”(11).

    Như vậy, tư tưởng “dân là gốc” cần được hiểu trên mấy lát cắt: Một là, dân chúng chứa đựng một xung lực mạnh mẽ vô cùng tận, cả tài, sức, quyền, trí, lòng dân; Hai là, Nhân dân được hưởng tất cả lợi ích vật chất và tinh thần; Ba là, dân chúng có trách nhiệm trong cách mạng, kháng chiến, đổi mới, xây dựng đất nước; Bốn là, không chỉ nước, mà Đảng cũng phải lấy dân làm gốc, do dân tổ chức nên.

    Trong mọi công việc, Đảng, Nhà nước đã xác định “dân là gốc” thì “đừng có làm điều gì trái ý dân”, “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”(12). Dân là chủ, là gốc, thì Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên phải phục vụ Nhân dân, học hỏi Nhân dân, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(13).

    Khẳng định Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nhưng lãnh đạo không có nghĩa là “ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống các địa phương kiểm tra công tác”(14), mà “lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”(15). Bằng cách cắt nghĩa đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đày tớ cho quần chúng… Xa quần chúng là hỏng, cần phải nhớ nhiệm vụ của Đảng là làm đầy tớ cho quần chúng”(16).

    Làm “đầy tớ nhân dân” với ý nghĩa cao đẹp nhất là phục vụ Nhân dân, học hỏi Nhân dân, đem lại hạnh phúc cho Nhân dân, làm cho Nhân dân hài lòng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không học hỏi nhân dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”(17).

    Một cách tiếp cận khác mang tính nguyên tắc thể hiện chiều sâu và bề rộng của nội hàm “dân là gốc”, cho thấy Đảng và Nhà nước khi đã xác định “lấy dân làm gốc” thì phải hoàn thành trách nhiệm, bổn phận với dân không chỉ là vấn đề lợi ích mà sâu xa hơn là tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, bàn bạc với dân, học hỏi dân, gương mẫu và tự phê bình trước dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ để chữa bệnh quan liêu, xa dân, khinh thường dân, phụng sự nhân dân tốt, có một “đơn thuốc” - nguyên tắc là: “Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:

    Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

    Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

    Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

    Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

    Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

    Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”(18).

    THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC DÂN VẬN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

    Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân(19) làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

    Điều đặc biệt là lần đầu tiên trong Hiến pháp, tại Điều 4, khi nói về Đảng Cộng sản Việt Nam, điểm 2 viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Nội dung này ghi rõ trong Cương lĩnh 2011 là tất yếu, đương nhiên, bình thườngvì đó là một trong những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng. Nhưng điều này thể hiện trong Hiến pháp với ý nghĩa là bộ luật căn bản của một nước thì hết sức đặc biệt. Điều đó tỏ rõ rằng Đảng không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của Nhân dân lao động và của cả dân tộc; là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, mà còn thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân; có bổn phận, trách nhiệm với dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.

    Cùng với Hiến pháp, trong những năm gần đây, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản mang tính chiến lược liên quan đến công tác dân vận, tin tưởng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở như Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” (6/1997); Chỉ thị 30 về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cở sở” (18/2/1998); Kết luận 120 về “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” (7/1/2016); Hội nghị toàn quốc đánh giá kết quả thực hiện Kết luận số 120-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” (16/7/2018). Đó là những kết quả rất quan trọng, ít nhất là về mặt ban hành nghị quyết, văn bản quy định, rất đáng khích lệ. Để tiếp tục thực hiện tốt công tác dân vận trong tình hình hiện nay, cần tập trung vào hai nhóm giải pháp sau đây:

    Một là, hiểu thấu, quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa những nghị quyết, quy định, kết luận, văn bản liên quan đến chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về công tác dân vận, thực hành dân chủ.

    Xét đến cùng, khi bàn về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay, có hai nhóm vấn đề quan trọng liên quan mật thiết với nhau, đó là hiểu thấu và làm đúng. Phải rà soát lại tất cả những văn bản bản đã được cấp ủy đảng, chính quyền các cấp triển khai nghiên cứu, quán triệt, học tập như thế nào. Một Đảng chân chính cách mạng vì dân, vì nước thì trước hết phải đưa ra được nghị quyết, chỉ thị, văn bản, quy định đúng đắn. Nhưng đó mới chỉ là quan trọng hàng đầu. Điều quan trọng hơn, có ý nghĩa quyết định là văn bản, nghị quyết đó đi vào thực tiễn, thâm nhập vào đời sống nhân dân như thế nào.

    Khi bàn về tư cách của một đảng chân chính cách mạng, Hồ Chí Minh đúc kết 12 điều và Đảng không được quên điều nào, trong đó điều 12 là: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(20).

    Thực tế cho thấy không phải mọi nghị quyết, chỉ thị đưa ra, đi vào cuộc sống đều đúng và có ý nghĩa soi sáng, dẫn dắt từ đầu đến cuối. Xét cho cùng, “sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”(21). Nghị quyết, chỉ thị là tổng kết kinh nghiệm của quần chúng, từ thực tiễn mà ra, rồi trở lại soi sáng thực tiễn. Vì vậy, trong quá trình triển khai nghị quyết, chỉ thị, “ta xem xét lại, coi ý kiến đó đúng hay không. Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành. Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước”(22).

    Phải khẳng định rằng nhiều nội dung về công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ đề ra trong các nghị quyết, chỉ thị rất đúng và hay, có tính khả thi. Nhưng do công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt chưa tốt; có nơi làm hình thức, đối phó, thiếu công khai, minh bạch, Nhân dân thiếu thông tin hoặc tiếp nhận thông tin không đầy đủ, nên việc Nhân dân bàn, giám sát và quyết định những vấn đề của địa phương, phát huy thật sự quyền làm chủ trong góp ý xây dựng Đảng, chính quyền còn hạn chế. Thậm chí “lâu nay, nhiều nơi cứ nói là thực hiện dân chủ, nhưng thực chất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị ở đó vẫn mượn danh hoặc nhân danh tập thể để hợp thức hóa những quyết định, ý chí chủ quan của cá nhân mình. Một số người có chức, có quyền còn quan cách, gia trưởng, thậm chí có những cá nhân, tập thể trù dập, ức hiếp quần chúng”(23). Đây là điều đã được Bác Hồ cảnh báo từ thập kỷ 50 thế kỷ trước - khi người phê bình loại cán bộ “miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ”(24).

    Những hạn chế, yếu kém như vậy phải được nghiêm túc xem xét, đánh giá, tổng kết, để chỉ rõ trách nhiệm thuộc về ai, tổ chức hay cá nhân, tùy theo tính chất, mức độ, phạm vi để có các hình thức xử lý, kỷ luật đúng mức. Nếu không làm được như vậy, xem các nghị quyết đã thi hành thế nào, cái gì được, cái gì chưa được, lần sau lặp lại những khuyết điểm trước, thì nghị quyết chỉ là lời nói suông, làm mất lòng tin của Nhân dân.

    Hai là, các tổ chức và cá nhân những người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải làm đúng, làm tốt và khéo công tác dân vận, thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tỏ rõ hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm chính sách, pháp luật được thực thi nghiêm túc. Một dẫn chứng là vấn đề xuống với dân, bàn bạc với dân, tiếp công dân. Chúng ta đã có những quy định rất cụ thể. Theo đó, xuống với dân là để bàn bạc với dân, học hỏi dân; nghiêm túc tiếp công dân, đối thoại với dân là để thấu hiểu, thấu cảm, nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý, để quan tâm giải quyết những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân, chăm lo dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ và thực hành dân vận. Những cách làm này, ngay sau khi nước nhà độc lập cách đây 75 năm, Hồ Chí Minh đã từng “đề nghị các vị Bộ trưởng nên luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi ở bàn giấy, theo kiểu “đạo nhân phòng thủ”(25). Tức là phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miêng nói, tay làm”, đem lại chất lượng tốt, “đúng” và “khéo” trong công tác dân vận. Người phê bình loại cán bộ “sấm ra đá kêu” mới gặp dân chúng một lần.

    Những năm qua, nhìn tổng thể xã hội có hai bức tranh tương phản. Chỗ nào người lãnh đạo đứng đầu sợ dân, ngại, không dám tiếp dân, tiếp một cách qua loa, đại khái, sẽ tạo ra một bức tranh tối. Nơi nào người đứng đầu cấp ủy, chính quyền nghiêm túc tiếp dân và xuống với dân thật sự, giải quyết thấu đáo những kiến nghị của dân, đứng về phía lợi ích chính đáng của người dân mà giải quyết những điểm nóng, phức tạp kéo dài, sẽ tạo ra bức tranh sáng. Tấm gương những cán bộ gần dân, sát dân là thể hiện một chính quyền thật sự thân thiện, trọng dân, vì dân.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng Nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì Nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm”(27).

    Cùng với cơ quan hành chính là vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận, các cơ quan chức năng, Ban Chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ. Một trong những vai trò, trách nhiệm nổi bật của Mặt trận là tuyên truyền, giải thích, vận động các tầng lớp Nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Cách làm là phải “đúng” và “khéo”, không gò ép áp đặt một cách thô bạo; phải tạo tính tự giác của mỗi người và nhân rộng các điển hình tiên tiến, lấy cái tốt dẹp cái xấu. Phải hiểu dân, tin tưởng dân, biết chờ đợi dân. Chúng ta phải ghi tạc vào đầu lời dặn của Bác: “Nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích”(28). “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công. Dân vận kém thì việc gì cũng kém”.

    Công tác dân vận cũng như mọi vấn đề khác, điều có ý nghĩa quyết định là con người, vì mọi việc đều do người làm ra, trong đó cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp và các cơ quan, đơn vị giữ một vai trò vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Sự gương mẫu của người lãnh đạo trong xây và chống, nói đi đôi với làm, có bản lĩnh, dũng khí tự phê bình trước Nhân dân và hoan nghênh Nhân dân phê bình mình, sẽ truyền cảm hứng, tạo niềm tin cho Nhân dân. “Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”(29).

    Gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng có bài viết quan trọng với tiêu đề “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới”. Bài viết nêu lại những bài học kinh nghiệm,trong đó bài học thứ năm khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn luôn xác định “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Đảng phải chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích của Nhân dân; xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với Nhân dân; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của Nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

    Ý kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đích thực trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay. Thực hiện tốt, có chất lượng, hiệu quả những điều đó chính là sự vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” trong sự nghiệp đổi mới hiện nay./.

    Theo tuyengiao.vn

    BTG-TĐBN

  • TÔI CHỈ CÓ MỘT MONG ƯỚC LÀ SỚM TRỞ VỀ TỔ QUỐC TÔI

    06/06/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Là một người tiên tri tiên lượng, nhà dự báo chiến lược thiên tài, sau khi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (7/1935), trả lời nhà văn I.Êrenbua khi được hỏi cảm nghĩ về mùa xuân này, Nguyễn Ái  Quốc nói: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”

    1. Với một khả năng thấy trước, tiên đoán khoa học của bậc kỳ tài về tình hình thế giới và trong nước đang từng bước có những chuyển biến mau lẹ, Người thấy phải sớm về nước để tranh thủ và chớp thời cơ lãnh đạo toàn dân vùng lên giải phóng. 

    Trong hai năm làm việc ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa và học ở lớp nghiên cứu sinh do Viện mở (từ khoảng tháng 6/1936 đến tháng 6/1938), Nguyễn Ái Quốc luôn luôn nung nấu kế hoạch về nước. Ngày 6/6/1938, Nguyễn Ái Quốc (Lin) viết Thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản. Thư nhắc đến ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc Người bị bắt giữ ở Hồng Công, đó là mở đầu năm thứ tám tình trạng không hoạt động của Người. Thư đề nghị phân Người đi đâu đó, giao cho Người làm một việc gì có ích. Thư nhấn mạnh: “Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”(2).

    Hai ngày sau, ngày 8/6/1938, Nguyễn Ái Quốc được Phòng Tổ chức cán bộ của Quốc tế Cộng sản gửi báo cáo Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản đề nghị giải quyết dứt điểm cho về nước. Tháng 10/1938, Nguyễn Ái  Quốc đáp xe lửa từ ga Iarôxlápxki rời Mátxcơva đi về phương Đông.

    Con đường trở về Tổ quốc từ tháng 10/1938 của Nguyễn Ái Quốc gian nan, vất vả. Trong vai Thiếu tá bát lộ quân, với bí danh Hồ Quang, Người di chuyển từ Diên An, Tây An đến Quế Lâm qua Trùng Khánh… Từ cuối tháng 7/1939 đến đầu năm 1941, Nguyễn Ái  Quốc tiếp tục di chuyển nhiều nơi trên đất Trung Quốc và có nhiều hoạt động tích cực. Người có báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị ở Đông Dương (từ năm 1936 đến năm 1938). Người làm việc ở Quế Lâm (tỉnh Quảng Tây), Quý Dương (tỉnh Quý  Châu), Côn Minh (Vân Nam)… Từ đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu liên hệ được với nhiều đồng chí Việt Nam đang ở Trung Quốc và Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. 

    Tháng 6/1940, Nguyễn Ái  Quốc đã giới thiệu Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh Dương Hoài Nam) đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Khoảng 20 ngày sau, nghe tin Pari bị quân Đức chiếm (20/6/1940), Người triệu tập một cuộc họp và phân tích “việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(3). Người điện ngay cho Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp nói không đi Diên An học tập nữa mà phải tìm cách về nước. Khi đi Trùng Khánh, Người dặn đi dặn lại Vũ Anh và các đồng chí ở Côn Minh lo chuẩn bị mọi mặt để khi Người trở lại có thể lên đường về nước ngay. Khi biết Nhật vào Đông Dương, Người nhận định:“Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập”(4).

    Từ tháng 10/1940, khi được tin hơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng vì bị đế quốc Pháp khủng bố mạnh đã vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc có ý định tổ chức lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó đưa anh em về củng cố và mở rộng phong trào ở Cao Bằng, tổ chức đường liên lạc về nước, phát triển xuống Thái Nguyên và tiếp xúc với toàn quốc. Đầu tháng 1/1941, Người bắt đầu tổ chức lớp học, trực tiếp huấn luyện chính trị.

    Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc lên đường về nước. Một ngày trước đó (ngày 27/1, tức mồng 1 tháng Giêng năm Tân Tỵ), trong khi chuẩn bị về nước, Nguyễn Ái  Quốc cùng các đồng chí trong cơ quan đi chúc tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Nậm Tấy (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc).

    2. Ngay sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục dịch (đã dịch một phần khi ở Trung Quốc) cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga (tóm tắt) ra tiếng Việt để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Người giao nhiệm vụ cho Vũ Anh triệu tập Hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng để rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng.

    Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 Đảng Cộng sản Đông Dương. Những hoạt động trên, đặc biệt là việc Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 có ý nghĩa lịch sử to lớn.

    Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc cùng với Đảng ta đề ra chủ trương đúng đắn, thay đổi chiến lược, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là cấp thiết, hàng đầu

    Xuất phát từ nhận định tình hình thế giới, tình hình Đông Dương, vấn đề dân tộc, Hội nghị phân tích sâu sắc mối quan hệ vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, bộ phận và toàn thể, chỉ rõ “trong giai đoạn hiện tại, quốc gia trước hết, thì tất thảy những yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của toàn thể, của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc, thì phải gác lại để giải quyết sau”(5). Xác định “cần phải thay đổi chiến lược”(6), Hội nghị chỉ rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(7). Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng xác định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(8).

    Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc đề ra sáng kiến thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh)

     Căn cứ vào tình hình thay đổi, sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc thành lập Mặt trận Việt Minh thuộc về chiến thuật vận động. Vấn đề cốt yếu là đánh đuổi được Pháp - Nhật, thực hiện cho được cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh ở một số huyện như Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình. Rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm đó, tại Hội nghị Trung ương 8, Người khẳng định tính thiết thực, bổ ích của một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong dân tộc Việt Nam. Mặt trận Việt Minh đã liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị để mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn. 

    Vấn đề tổ chức các đoàn thể quần chúng được Nguyễn Ái  Quốc chỉ rõ phải phản ánh được chính sách cứu quốc, mục đích của các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu quốc là cốt yếu, mà hạt nhân là tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc.

    Với sáng kiến thành lập Mặt trận Việt Minh, Hội nghị Trung ương 8 khẳng định: “Không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xôviết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”(9). Việt Minh đưa ra chính sách 10 điểm được coi như “tiền Hiến pháp” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nguyễn Ái Quốc viết bài thơ Mười chính sách của Việt Minh phản ánh nguyện vọng chung của toàn dân tộc và những điểm đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, nông dân và mọi tầng lớp nhân dân. 

    Sau Hội nghị Trung ương 8, ngày 6/6/1941, Nguyễn Ái  Quốc có thư Kính cáo đồng bào. Trong thư kêu gọi: “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm. Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(10).

    Mười năm sau, trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951), Hồ Chí Minh nhận định: “Cái tên Việt Nam độc lập đồng minh rất rõ rệt, thiết thực và hợp với nguyện vọng toàn dân… Vì thế mà Việt Minh được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh, và cũng do cán bộ rất cố gắng đi sát với dân, cho nên Việt Minh phát triển rất mau và rất mạnh. Vì mặt trận phát triển mạnh mà Đảng phát triển cũng khá”(11).

    Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc về nước cùng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

    Cần phải khẳng định rằng sự kiện 80 năm trước Nguyễn Ái Quốc về nước (28/1/1941) mang tầm vóc to lớn và ý nghĩa lịch sử vĩ đại. Đánh giá sự kiện ngày 28/1/1941 phải gắn chặt với suy nghĩ và hành động của Nguyễn Ái Quốc trong suốt thời gian trên đường về nước.

    Nguyễn Ái Quốc là con người hành động, lý luận gắn với thực tiễn. Quan điểm của Người rõ ràng: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin không phải nhắc như con vẹt “Vô sản thế giới liên hiệp lại” mà phải thống nhất chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam là nói đến chủ trương, chính sách của Đảng. Ví dụ đại đoàn kết”(13). Việc Nguyễn Ái Quốc sau khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và quyết định trở về nước vì “không muốn sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống bện cạnh, ở bên ngoài của Đảng” là minh chứng hùng hồn cho quan điểm lý luận Mác - Lênin thống nhất với thực tiễn cách mạng Việt Nam của Người.

    Việc trở về nước của Nguyễn Ái Quốc cùng với thư Kính cáo đồng bào và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 mà Nguyễn Ái Quốc là linh hồn, đã tạo nên sự thống nhất cao độ, bền vững giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với quan điểm, đường lối của Đảng. 

    Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng làm nên kỳ tích lịch sử, cả dân tộc “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, làm nên thắng lợi huy hoàng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, “biến người nô lệ thành người tự do”, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân, tạo điều kiện cho dân tộc ta theo kịp các nước trên hoàn cầu, bước tới đài vinh quang để “sánh vai với các cường quốc năm châu” như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay sau ngày nước nhà độc lập./.

    Theo Tuyengiao.vn

    BTG-TĐBN

  • THỜI TRAI TRẺ TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA BÁC HỒ: CÁNH CHIM BẰNG BAY TRÊN BÃO TÁP

    03/06/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước với 30 năm bôn ba qua 3 đại dương, 4 châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố. Đó là quãng đời “thanh niên sôi nổi” vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai. Nhân kỷ niệm 110 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/6/1911 – 05/6/2021), xin trân trọng giới thiệu loạt bài phần nào ghi chép lại câu chuyện về bản lĩnh, ý chí của một người trai chí lớn đã truyền cảm hứng cho thế hệ hôm nay và mai sau…

     

    Bến cảng Nhà Rồng và ngày 5-6-1911 là cột mốc đánh dấu hành trình Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng chúng tôi muốn cùng bạn đọc lùi lại một mốc khác, đó là mùa Thu năm 1910, khi tròn 20 tuổi, Người đã dừng chân ven bờ biển Phan Thiết. Hành trình cứu nước đã bắt đầu từ những bước chân buổi ấy…

    Phan Thiết, một ngày mùa Thu tháng 9 năm 1910. Chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành dừng chân mà lòng ngổn ngang trăm mối. Cuốn Hồ Chí Minh-biên niên tiểu sử (do Viện Hồ Chí Minh thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006) ghi: Ngày 4-12-1908, Nguyễn Tất Thành khi đang là học sinh với lòng yêu nước thương dân đã tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên và bị thực dân Pháp theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Huy (cha của Nguyễn Tất Thành), một vị quan thanh liêm đang làm việc ở Huế cũng bị chúng khiển trách.

    Sang năm 1909, Nguyễn Tất Thành theo cha, lúc đó là Phó bảng vào huyện Bình Khê thuộc tỉnh Bình Định nhậm chức tri huyện. Sau đó Người được cha gửi vào Quy Nhơn học tiếng Pháp. Những tưởng việc học hành sẽ thuận lợi nhưng chẳng bao lâu, tháng 1 năm 1910, cha Người bị triều đình bãi chức và triệu hồi về Huế. Việc học tập của Nguyễn Tất Thành nguy cơ dang dở.

    Tháng 9 năm ấy, Nguyễn Tất Thành quyết định từ Quy Nhơn vào Sài Gòn. Sau này, trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

    Nhưng hành trình đâu dễ dàng. Đến Phan Thiết thì hết tiền, Người phải xin vào làm trợ giáo, dạy môn Thể dục tại Trường Dục Thanh, một ngôi trường tư thục nằm kề bên bờ sông Cà Ty, thành phố Phan Thiết (Bình Thuận).

    Theo hồi ức của các học sinh: Thầy Thành dạy rất tận tâm, hết lòng thương yêu, chăm sóc trò. Thầy thường phổ biến cho học sinh những thơ ca yêu nước. Vừa phụ trách thể dục, thầy vừa chăm lo xây dựng tủ sách, hướng dẫn học sinh thăm phong cảnh trong vùng…

    Ngoài giờ lên lớp với số tiền lương ít ỏi, theo tư liệu ghi chép chỉ vỏn vẹn 8 đồng, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý để đọc. Lần đầu tiên Người được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rousseau, Voltair, Montesquieu, càng thôi thúc Người tìm đường ra nước ngoài.

    Cuối năm Canh Tuất (1910), Nguyễn Tất Thành rời Trường Dục Thanh về Sài Gòn tiếp tục con đường đã định… Năm 1960, tập sách Bác Hồ do nhiều tác giả viết in tại Hà Nội đã được Bác Hồ xem. Khi đọc, Bác nói với đồng chí thư ký:

    – Bác không có ý định dừng lại Phan Thiết song đến đó thì tiền lộ phí đã cạn mới quyết định ở lại tìm việc làm để có tiền đi tiếp cuộc hành trình.

    Đến Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành xin vào học một trường kỹ thuật do Pháp quản lý, dạy về hàng hải. Sau này, đồng chí Hà Huy Giáp kể lại, có lần Bác nói: “Bác đâu có ý định học thợ, nhưng trong lúc lang thang để tìm cách sang phương Tây, mà có nơi cho mình học, có cái ăn là mình vô thôi”.

    Ít lâu sau, Người đã tìm đến thăm cha lúc này cũng ở miền Nam. Người cha già dặn dò: “Tìm thăm cha là tốt, nhưng cái cần hơn vẫn là tìm đường cứu dân tộc”. Lời dặn ấy như càng củng cố thêm khao khát tột cùng bấy lâu nay Nguyễn Tất Thành nung nấu.

    Ngày 2-6-1911, Nguyễn Tất Thành nộp đơn xin việc làm ở tàu Amiral Latouche Tréville, một tàu lớn vừa chở hàng, vừa chở khách, đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Marseille, Pháp. Một ngày sau, anh bắt đầu làm phụ bếp ở tàu với tên mới: Văn Ba. 

    Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành từ Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn sang Pháp. Người thanh niên 21 tuổi ấy ra đi với mục đích gì? Để kiếm kế sinh nhai, hay để thoả mãn một ước mơ xa lạ nào đó của tuổi trẻ. Hơn mười năm sau chính anh đã trả lời nhà báo, nhà thơ Xô viết Osip Mandelstam:

    Khi là một cậu bé ở tuổi 13, tôi lần đầu tiên đã nghe đến những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái và tình anh em – đối với chúng tôi tất cả người da trắng đều là người Pháp. Tôi muốn tìm hiểu nền văn minh của Pháp để biết xem cái gì ẩn đằng sau những từ ấy. Nhưng ở các trường Pháp dành cho người bản xứ, người Pháp dạy như dạy con vẹt. Người ta ngăn cấm chúng tôi tiếp xúc với sách báo, không chỉ là những nhà văn mới mà ngay cả Rousseau và Montesquieu. Tôi đã làm gì? Tôi quyết định đi ra nước ngoài. Người An Nam bị xem là nông nô. Chúng tôi không chỉ bị cấm du lịch, mà còn bị cấm đi lại trong nước. Đường sắt được xây dựng cho các mục đích chiến lược riêng: trong con mắt người Pháp, chúng tôi chưa đủ trình độ để sử dụng những tuyến đường này. Tôi đã ra đi bằng đường biển. Lúc đó tôi 19 tuổi. Ở Pháp, các cuộc bầu cử đang diễn ra. Giới tư sản đang lừa phỉnh nhau’.

    Rõ ràng là sự lựa chọn đi ra nước ngoài bằng đường biển của Bác Hồ là có chủ đích tìm đường cứu nước. Trả lời phỏng vấn này trùng khớp với những thông tin sau này về tiểu sử của Người.

    Con tàu xuyên đại dương ngay trong tháng 6 đã ghé cảng Singapore rồi Colombo, Sa’id (Ai Cập). Ngày 6-7-1911, sau một tháng vượt biển, tàu đến nước Pháp. Ở đây, Nguyễn Tất Thành tận mắt chứng kiến ở nước Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam. Anh trăn trở: “Tại sao người Pháp không “khai hoá” đồng bào của nước họ trước khi đi “khai hoá” chúng ta”.

    Ngày 5-6-1911, từ Bến cảng Nhà Rồng (ảnh), Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.  

    Làm phụ bếp trên tàu nhưng khát vọng được học tập để mở mang vẫn cháy bỏng. Ngày 15-9-1911, Nguyễn Tất Thành viết đơn gửi Tổng thống Pháp trình bày nguyện vọng muốn vào học Trường Thuộc địa. Đơn có đoạn viết: “…Tôi rất ham học. Tôi muốn sẽ trở nên có ích cho nước Pháp đối với các đồng bào của tôi, đồng thời có thể giúp họ hưởng được những ân huệ của giáo dục…”.

    Thế nhưng nước Pháp không văn minh và bác ái như khẩu hiệu, lá đơn được quay về thuộc địa và người ta vì dị ứng với việc Người tham gia biểu tình năm 1908 đã bác bỏ nguyện vọng đó.

    Giữa tháng 10 năm ấy, theo hành trình, con tàu  Amiral Latouche Tréville quay trở về Sài Gòn rồi lại ra đi. Sổ lĩnh lương tàu mà bản chụp hiện còn lưu tại Viện Hồ Chí Minh ghi rõ, Người nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911. Dù làm việc vất vả nặng nhọc, có thể mất mạng bất cứ lúc nào, nhưng mức lương lại rất bèo bọt. Sổ ghi, sau khi đóng tiền ăn, tiền nộp cho cai bếp, góp vào quỹ bảo hiểm cho thủy thủ người Pháp thì chỉ còn nhận được vỏn vẹn 10 franc.

    Có một chi tiết thật xúc động, theo chính Hồ sơ của Chánh mật thám ghi lại: Nhận lương ít ngày thì ngày 31-10-1911, từ Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ, nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.

    Bước sang năm 1912, con tàu tiếp tục hành trình đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Algeria, Tunisia, Democratic Republic of the Congo, Dahomey, Senegal, Réunion…

    Đến đâu, Nguyễn Tất Thành cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Đến Dacar, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả ca nô xuống vì sóng to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi.

    Cảnh tượng đó làm cho Nguyễn Tất Thành hết sức đau xót, anh khóc. Hỏi tại sao, anh buồn rầu trả lời: “Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác và vô nhân đạo”.

    Anh kể lại điều anh từng trông thấy trên bờ biển Phan Rang, Phan Thiết trước lúc ra đi: “Ở ta, tôi cũng thấy những chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”.

    Cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành theo con tàu đến Mỹ. Điện tín của Chánh mật thám Sài Gòn sau này ghi lại: Ngày 15-12-1912, từ New York, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ cho biết tình hình và địa chỉ của cha. Thư cho biết, anh đã gửi cho cha mình ba ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một lần trả lời.

    Thời gian ở Mỹ, Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu. Nữ tác giả Josephine Stenson, một nhà sử học người Mỹ đã tự bỏ tiền túi ra để đi khắp những nơi mà Bác Hồ đặt chân tìm hiểu, sau này đã phát biểu sâu sắc về Bác Hồ tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1990) ở Hà Nội.

    Bà viết: “…Tôi nghĩ ngay đến Tượng thần Tự do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và ca ngợi thần Tự do, Nguyễn Tất Thành khi đến New York cũng đã đến chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và mọi chính khách, sau khi đã đến tham quan thần Tự do đều ghi cảm tưởng bằng những lời ca ngợi Ngôi sao tỏa sáng trên vòng Nguyệt quế là ánh sáng tự do… Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem thần Tự Do nhưng nhìn xuống dưới chân tượng và ghi “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân Tượng thần Tự do và ghi lại những ý kiến trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người chứ không chiêm ngưỡng hào quang tỏa sáng từ bức Tượng thần Tự do”.

    Lao động vất vả nhưng khát vọng học tập luôn cháy bỏng trong Nguyễn Tất Thành. Cùng với bức thư gửi cho cha, anh còn gửi một bức thư cho anh trai Nguyễn Sinh Khiêm (thời kỳ này đang giúp việc vặt ở Toà Khâm sứ Trung Kỳ), nhờ xin cho vào học Trường Thuộc địa tại Pari. Nhưng kết quả không khả quan hơn, vẫn với sự kỳ thị, toàn quyền trả lời: “…ông chủ sự giáo dục Trung Kỳ, được hỏi ý kiến đã cho biết người thanh niên này đã bắt đầu học Trường Quốc học Huế, nay qua làm bồi ở Pháp, có thể tiếp tục học ở một trường tại thuộc địa trước khi có tham vọng trở thành sinh viên ở Pháp”.

    Đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Pháp, sau đó sang Anh.

    Đến nước Anh, lên bờ, làm gì để sinh sống là một câu hỏi quá khó khăn giữa thủ đô London hoa lệ. Nguyễn Tất Thành nhận cào tuyết cho một trường học. Công việc quá vất vả mệt nhọc, anh đành phải bỏ việc. Anh tìm được một việc khác là đốt lò. Từ 5 giờ sáng, anh đã phải chui xuống hầm để nhóm lửa, suốt ngày đổ than, thay than trong lò, sống trong cảnh tranh tối tranh sáng, ngột ngạt đáng sợ.

    Nhưng cũng ngay từ những ngày đầu tiên đến nước Anh, Nguyễn Tất Thành bắt tay ngay vào việc học ngoại ngữ. Hằng ngày, sáng sớm và buổi chiều, trước và sau giờ lao động để kiếm tiền sống, anh miệt mài tự học. Hằng tuần, vào ngày nghỉ, anh học tiếng Anh với một giáo sư người Ý.

    Giữa năm ấy, từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Bức thư cho thấy anh rất quyết tâm học ngoại ngữ: “Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và tháng ngày luống những chỉ lo làm việc khỏi đói, chớ chẳng học được bao nhiêu. Và cháu ước ao rằng bốn, năm tháng nữa, lúc gặp bác thì sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều…”.

    Cuối năm 1913, việc đốt lò vất vả khiến Nguyễn Tất Thành ốm nặng, bị cảm, phải xin nghỉ việc. Bình phục, Nguyễn Tất Thành đến làm thuê ở khách sạn Drayton Court rồi sang làm phụ bếp ở khách sạn Carlton, một khách sạn sang nổi tiếng ở London, dưới sự điều khiển của vua đầu bếp người Pháp Escophier.

    Hằng ngày, anh để riêng những thức ăn còn sạch sẽ, có lúc là một phần tư con gà hoặc còn nguyên cả miếng bít tết để đưa lại cho nhà bếp. Vua đầu bếp hỏi tại sao không vứt đi như những người khác, anh trả lời: “Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy”. Ông ta tỏ ra cảm phục và nói: “Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp, làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền”.

    Từ đó, Nguyễn Tất Thành được ông vua bếp đưa vào chỗ làm bánh với số lương cao hơn. Mọi người cho biết lần đầu tiên ông vua bếp làm như thế!

    Nhà văn, nhà sử học, Giám đốc Trung tâm lưu trữ, Thư viện Marx, Vương quốc Anh John Callow cho rằng, chính trong thời gian ở London, Hồ Chí Minh đã đọc các tác phẩm của Marx và Engels, được in rất rẻ tại Nhà in Thế kỷ Hai mươi thuộc Đảng Dân chủ Xã hội Anh. Bốn năm ở London đã góp phần rất nhiều trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành đã từ Anh trở lại Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp, tiếp tục hành trình tìm đường cứu nước của mình.

    Hành trình 6 năm đầu tìm hình của nước ở tuổi 20, Người đã phải trải qua đủ mọi đắng cay, một mình dặm trường nơi đất khách quê người, phải gác lại những tình cảm riêng tư như nhà sử học người Mỹ ghi lại: “…một số sĩ quan Anh-Mỹ trong đội quân của đồng minh khi sang Đông Dương đóng ở Cao Bằng có dịp tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả tập hồi ký “Tôi sống cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu khởi nghĩa”. Chúng tôi có hỏi – không phải tò mò mà trên danh nghĩa là đàn ông với nhau, tại sao Chủ tịch không lấy vợ, không lập gia đình? Hồ Chí Minh trả lời một cách chân tình và thân mật: Khi còn trẻ phải đi hoạt động cách mạng, khi giành được độc lập thì đã già, nên không dám tính chuyện đó. Trước khi tôi ra đi, tôi có yêu một người con gái, người con gái đó cũng rất yêu tôi. Nhưng phải dừng lại về chuyện yêu đương, sau nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái đó đang ở đâu, còn hay mất”.

    Nguồn huongsenviet.com

    BTG-TĐBN

  • 55 NĂM NGÀY BÁC HỒ RA LỜI KÊU GỌI “KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP, TỰ DO”

    30/05/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Câu nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành bất hủ, không chỉ phản ánh ý chí, khát vọng của toàn dân tộc mà còn trở thành động lực, tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân Việt Nam.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tại Hà Nội, ngày 17/7/1966. Người khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập tự do. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

    Cách đây 55 năm, ngày 17/7/1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược đang diễn ra hết sức quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Không có gì quý hơn độc lập, tự do,” kêu gọi đồng bào, chiến sỹ cả nước anh dũng tiến lên chống Mỹ, cứu nước.

    Từ đó, câu nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành bất hủ, không chỉ phản ánh ý chí, khát vọng của toàn dân tộc mà còn trở thành động lực, tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân Việt Nam trong suốt hành trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

    “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

    Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng mang tầm chân lý, một chân lý bất hủ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và giá trị thời đại sâu sắc.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập, tự do là quyền dân tộc, quyền con người, là xuất phát điểm đối với mọi dân tộc trên con đường đi tới phồn vinh và hạnh phúc. Dân tộc không thể phát triển, đất nước không thể phồn vinh, nhân dân không thể có cơm no, áo ấm và cuộc sống hạnh phúc nếu không có được độc lập, tự do. Do đó, giành lấy và bảo vệ độc lập, tự do là yêu cầu sống còn của các dân tộc. Khi độc lập, tự do bị xâm phạm cả dân tộc phải kiên quyết đứng lên chiến đấu đến cùng để giữ vững và bảo vệ nền độc lập và tự do ấy.

    Không phải đến khi viết lời kêu gọi ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới khẳng định giá trị của độc lập tự do. Ngay từ khi còn niên thiếu, động lực thúc đẩy Người quyết chí ra tìm đường cứu nước chính là để tìm lại độc lập tự do cho dân tộc.

    Sau này, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Người soạn thảo cũng xác định: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.” (1)

    Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941), Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.” (2)

    Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giữ vững ngọn cờ độc lập, tự do, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân nêu cao ý chí, quyết tâm “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.” (3)

    Đặc biệt, khi đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam, đồng thời sử dụng không quân và hải quân tăng cường đánh phá miền bắc, lường trước khả năng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có thể còn lan rộng và vô cùng ác liệt, để khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do.”

    Ngày 17/7/1966, lời kêu gọi của Người được phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam và được đăng trên báo Nhân Dân số 4484 ngày 17/7/1966. Trong lời kêu gọi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta cả ở miền Bắc cũng như ở miền Nam. Quân và dân miền Nam đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu anh dũng đã thắng lợi vẻ vang, thực hiện mục tiêu quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà.

    Thông qua lời kêu gọi đã thể hiện dân tộc Việt Nam hết sức bình tĩnh trước khó khăn, thách thức, tin tưởng vào sức mình, vào sự đoàn kết của toàn dân tộc. “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ!.”(4)

    Trong lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một chân lý nổi tiếng làm cho lời kêu gọi ngày 17/7/1966 có sức lan tỏa rất xa và có sức mạnh tập hợp đoàn kết rất mạnh mẽ, đồng thời khẳng định một niềm tin lớn vào ngày mai. Đó là chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do.” Và “đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.” (5)

    Có thể khẳng định, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là tư tưởng mang tính cách mạng sâu sắc và triệt để. Nó gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người-sự nghiệp vĩ đại mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phấn đấu, hy sinh cả cuộc đời để thực hiện. 

    Chân lý bất hủ

    Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nội hàm rộng lớn, giá trị to lớn và tính cách mạng sâu sắc. Nó không chỉ là độc lập, tự do của Tổ quốc mà còn là hạnh phúc của nhân dân. Bởi “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.” (6)

    Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến, kêu gọi toàn dân tộc Việt Nam nhất tề đứng lên kháng chiến với quyết tâm: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. (Ảnh: Nguyễn Bá Khoản/Tư liệu TTXVN)

    Và nó không chỉ đúng trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược, mà còn có giá trị sâu sắc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước, quyết tâm giành lại độc lập tự do đã trở thành mục tiêu to lớn giúp Đảng ta thức tỉnh, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, tạo nên sức mạnh to lớn đánh Pháp, đuổi Nhật, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám (1945), khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954) “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu,” chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp.

    Với ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!", dân tộc ta đã "đánh cho Mỹ cút." Thừa thắng, quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong 55 ngày đêm tiến công, ta đã "đánh cho ngụy nhào."

    Từ đây đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện trọn vẹn mong muốn của Bác Hồ và làm sáng ngời hiện thực của chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!" trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.

    "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!," chúng ta đã vào cuộc trường chinh xây dựng "đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" với công cuộc đổi mới theo sự chỉ dẫn của Bác Hồ: "chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi." Đi theo chỉ dẫn đó, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tiềm lực đất nước và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

    Không chỉ được thể hiện ở việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, độc lập tự do còn thể hiện rõ nét thông qua việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội để mang lại cho người dân cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

    Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm xuyên suốt của Đảng ta là: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.” (7) Nền dân chủ và việc bảo đảm phát huy dân chủ không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước.

    Ngày 28/12/1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, chính thức thông qua kế hoạch chiến lược năm 1968, mở cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 là nhằm giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải đơn phương ngừng ném bom miền bắc, buộc phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

    Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân;

    2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2);

    Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3);

    “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Điều 6)...

    Quyền dân chủ của nhân dân còn được ghi nhận tại Chương II Hiến pháp năm 2013 (quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân) cũng như trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Trưng cầu dân ý, Luật Đất đai, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm y tế...

    Về phát triển kinh tế-xã hội, chăm lo cuộc sống của nhân dân, trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Kinh tế tăng trưởng khá đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển. GDP bình quân đầu người năm 2019 đạt 2.715 USD (gấp 15 lần năm 1990). Tỷ lệ hộ nghèo năm 2020 còn dưới 3%. Điều kiện và chất lượng giáo dục ngày càng tăng, trình độ y tế ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên, từ “ăn no, mặc ấm” dần chuyển sang “ăn ngon, mặc đẹp” kết hợp vui chơi, giải trí.

    Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 gây nhiều khó khăn cho đời sống và sản xuất của người dân và doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người lao động và sử dụng lao động, giúp họ vượt qua khó khăn, có thêm niềm tin vào cuộc sống.

    Có thể khẳng định hơn nửa thế kỷ, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nội hàm rộng lớn vẫn luôn là chân lý bất hủ, có giá trị sâu sắc cho đến mãi về sau./.

    Theo Tuyengiao.vn

    BTG-TĐBN

  • SUY NGẪM VỀ BÀI HỌC TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI CỦA HỒ CHÍ MINH TỪ SỰ NGHIỆP HUỲNH THÚC KHÁNG

    26/05/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đau đáu tìm kiếm người tài đức, thành tâm trân trọng và sử dụng họ phục vụ cho nhân dân, cho đất nước. Với trường hợp Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Chí Minh đã rất kiên trì, kiên quyết để mời Cụ tham gia và đảm nhiệm vị trí quan trọng trong Chính phủ liên hiệp. Và có lẽ, chỉ có Hồ Chí Minh mới đủ tầm, tâm, trí để quy tụ được Huỳnh Thúc Kháng – một bậc chí sĩ “học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”, cũng đã từng nhiều lần từ chối những lời mời gọi hợp tác. Tham gia Chính phủ Liên hiệp ở tuổi 70 “xưa nay hiếm”, Huỳnh Thúc Kháng đã có những đóng góp to lớn cho cách mạng, trong thời điểm vận mệnh dân tộc đứng trước tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”.

    Cụ Huỳnh Thúc Kháng và báo Tiếng Dân.

    QUÝ TRỌNG NGƯỜI TÀI

    Huỳnh Thúc Kháng và Hồ Chí Minh là hai nhà chính trị, tuy khác nhau về tuổi tác, con đường và cách thức cứu nước nhưng đều là bậc trí thức uyên bác; là những nhà yêu nước nhiệt thành, chân chính; đầy bản lĩnh và khí chất của người lãnh đạo. Thấu hiểu và thấm thía sâu sắc nỗi khổ, nỗi nhục của người dân của đất nước nô lệ, cả hai đã dấn thân, xả thân vì sự nghiệp chung của dân tộc với khát vọng mãnh liệt nhất là giành độc lập dân tộc. Chính những điểm tương đồng về nhân cách và lý tưởng đó đã tạo nên sự giao thoa, gặp gỡ của hai người vốn thuộc hai thế hệ khác nhau, với quan điểm, lập trường, chủ thuyết khác nhau trở thành những người bạn tri kỷ và những người cộng sự đắc lực.

    Ngày 2/3/1946, khi trình danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến để Quốc hội chuẩn y, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu cụ Huỳnh là “một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết(1).

    Trong thời gian 1904-1908, tư tưởng yêu nước ôn hòa của Huỳnh Thúc Kháng thể hiện ở việc cổ động tân học, đả phá khoa cử, gọi thương gia, thân hào lập các hội thương, công, nông… Năm Mậu Thân 1908, sau vụ chống thuế của nhân dân Trung Kỳ mà Quảng Nam là điểm khởi phát, Huỳnh Thúc Kháng bị bắt rồi bị đày ở Côn Đảo – như lời Cụ nói “là trường học thiên nhiên” mà “mùi cay đắng trong ấy, làm trai giữa thế kỷ XX này không thể không nếm cho biết”(2) suốt 13 năm (1908-1921) mới được trả tự do. Sau khi ra tù, thực dân Pháp và chính phủ Nam triều mua chuộc khôi phục hàm Tiến sĩ Hàn lâm viện Biên tu, mời ra làm việc tại Bác cổ viện (Huế), nhưng Huỳnh Thúc Kháng một mực từ chối, ở lại quê nhà đọc sách, làm báo. Năm 1926, Huỳnh Thúc Kháng ứng cử vào Viện dân biểu Trung kỳ với mong muốn sẽ mở rộng quyền dân chủ của người dân, lên án, đả kích những hành động ức hiếp, tham lam, độc đoán của bọn thống trị. Trong ba năm hoạt động với vai trò Viện trưởng, Huỳnh Thúc Kháng đã cùng nhóm dân biểu tiến bộ ra sức đấu tranh đòi ban bố Hiến pháp; nêu yêu cầu phải trao thực quyền cho viện dân biểu để không mang tiếng là “tên là nhân dân đại biểu mà thật là một quan trường mới”; thi hành chính sách giáo dục bắt buộc và cho tự do lập trường học, cải cách hệ thống tư pháp, xét xử để người Việt Nam có nhiều quyền bình đẳng hơn…

    Quan điểm nổi bật của Huỳnh Thúc Kháng là đề cao tinh thần “dân chủ pháp quyền”, bài trừ chế độ quân chủ, xây dựng thể chế dân chủ, thực hiện dân quyền trong đó trước hết quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng cho nhân dân. Đặt trong bối cảnh xã hội Việt Nam bấy giờ, đó là những quan điểm hết sức mới mẻ và tiến bộ, góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc, ý thức dân chủ ở nước ta đầu thế kỉ XX. Những quan điểm tiến bộ đó dù mang xu hướng ôn hòa đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của Nam triều và chính quyền thực dân. Như người “bừng tỉnh giấc mơ”, Huỳnh Thúc Kháng đã xin từ chức cuối năm 1928, trước khi hết nhiệm kỳ chứ nhất định không chịu làm con rối để chúng giật dây.

    Năm 1927, Huỳnh Thúc Kháng sáng lập tờ báo “Tiếng Dân” với mong muốn “trở thành một cơ quan giáo dục nhằm đào tạo một con người biết thương nước yêu nòi, biết căm thù cướp nước và bán nước, biết thương yêu đùm bọc nhau trong lúc hoạn nạn”, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo này tại Huế cho đến khi tờ báo bị đình bản vào năm 1943. Sau khi xâm lược Đông Dương, phát xít Nhật cho người đến gặp Huỳnh Thúc Kháng mua chuộc, dụ dỗ nhưng bị Cụ cự tuyệt. Sau đó, hai lần, “Quốc trưởng” Bảo Đại cử Đổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe đến mời Huỳnh Thúc Kháng tham gia nội các của Bảo Đại đều bị Cụ từ chối. Cụ còn khuyên Bảo Đại nên thoái vị và giao quyền cho nhân dân, bởi “Hiện trên thế giới ngày nay, chế độ quân chủ đã lỗi thời. Riêng ở Việt Nam chúng ta, trong con mắt dân chúng lại càng không nên duy trì lắm. Ngài giao quyền lại cho dân, hoạ may sẽ có những vị anh hùng trong đồng quê núi thẳm xuất đầu lộ diện làm nên việc cũng chưa biết chừng. Và như thế, riêng phần ngài cũng tự tỏ mình là người thức thời vậy”(3). Bên cạnh đó, Huỳnh Thúc Kháng còn cổ suý cho chủ nghĩa dân chủ với chủ trương liên hiệp hết thảy quốc dân đồng bào, đoàn kết tất cả các đảng phái, tôn giáo, giai cấp để “ra sức phụng sự Tổ quốc”.

    Cảm phục trước chí khí, tài trí của các Nho sĩ yêu nước đã dám từ bỏ tư tưởng tôn quân vốn ăn sâu, trở thành “thâm căn cố đế” để tiếp thu cái mới, cái tiến bộ khai sáng cho dân tộc; từ bỏ địa vị và danh vọng để dấn thân trong cuộc đấu tranh gian khổ với kẻ thù nên sau khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết và kiên trì thuyết phục mời Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ mới. Người đã gửi hai bức điện mời Huỳnh Thúc Kháng ra làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ban đầu, Cụ từ chối vì chưa biết Hồ Chí Minh là ai và khi cách mạng hy sinh gian khổ thì mình chẳng đóng góp gì, nay thắng lợi rồi thì mình ra hưởng thụ, nhưng lần hai thì Cụ đồng ý ra Hà Nội gặp Bác để trao đổi. Tại cuộc gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích khó khăn tình hình đất nước, cần các bậc chí sĩ cần chung vai gánh vác việc nước với toàn dân và tha thiết mời “Trên con đường tranh đấu giành độc lập, cụ đã đi được 99 dặm, chỉ còn 1 dặm nữa. Xin cụ đừng thoái thác, cụ vui lòng giúp tôi”(4). Trong thời gian một tuần lễ được gặp gỡ trực tiếp với Chủ tịch Hồ Chí Minh, cảm được trí, cái nhân của Người và được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, người mà trước đó Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã đặt vào rất nhiều kỳ vọng, Huỳnh Thúc Kháng nhận lời ra tham gia Chính phủ với tâm nguyện “làm quan thì tôi không làm, nhưng làm đầy tớ cho dân thì tôi xin nhận”.

    Có thể nói, giữa thời khắc lịch sử của vận mệnh quốc gia, mặc dù đã ở tuổi 70, không có nhiều cảm tình với cộng sản từ trước, nhưng với tấm lòng vì dân, vì nước; vì sự kính nể và trước nhiệt tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Huỳnh Thúc Kháng đã nhận lời tham gia Chính phủ và trở thành người bạn, người cộng sự tri kỷ của Người, có nhiều đóng góp quan trọng cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này. Huỳnh Thúc Kháng là nhân vật tạo nên cái “gạch nối” lịch sử gắn kết phong trào yêu nước của các chiến sĩ Duy tân với phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là một trong những trường hợp tiêu biểu nhất, thể hiện sinh động tư tưởng trọng dụng hiền tài để góp sức công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước của Hồ Chí Minh, như Người đã viết "Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”(5).

    SỬ DỤNG NGƯỜI TÀI PHỤC VỤ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ ĐỒNG BÀO

    Vào thời điểm nền độc lập non trẻ của dân tộc đang đứng tr­ước những thử thách ngàn cân treo sợi tóc của họa ngoại xâm và sự phá hoại của các thế lực phản cách mạng bên trong thì với uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục đư­ợc Huỳnh Thúc Kháng ra tham chính và chính uy tín của Huỳnh Thúc Kháng lại đóng góp đắc lực và trở thành biểu tượng của khối đoàn kết dân tộc, góp phần đập tan âm m­ưu phá hoại của kẻ thù. Vượt qua sự khác biệt về quan điểm chính trị, tham gia Chính phủ mới, chưa một lần từ chối bất cứ cương vị, trọng trách, nhiệm vụ nào mà Hồ Chí Minh giao phó, Huỳnh Thúc Kháng lại một lần nữa dấn thân phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào, như lời Cụ nói với Hồ Chí Minh: “Nếu Cụ thấy ba chữ Huỳnh Thúc Kháng còn có chỗ dùng với Tổ quốc, đối với quốc dân đồng bào, thôi thì xin hiến cho Cụ dùng”(6).

    Dụng nhận như dụng mộc” – đó là cách mà Hồ Chí Minh thường nói về sử dụng cán bộ, sử dụng con người phụng sự cho cách mạng. Với trường hợp Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện, thuyết phục và sử dụng phát huy tốt nhất uy tín, năng lực của người tài đức. Trọng trách đầu tiên mà Huỳnh Thúc Kháng đảm nhiệm trong Chính phủ mới là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Trong 13 bộ của Chính phủ lâm thời được thành lập ngày 27/8/1945, Bộ Nội vụ được giao thực hiện chức năng tổ chức, xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền cách mạng; bảo đảm an ninh chính trị, trị an và đảm nhiệm một phần chức năng của Chủ tịch phủ; theo dõi điều hành công tác nội trị, pháp chế, hành chính công và điều phối hoạt động của các bộ khác. Đồng chí Võ Nguyên Giáp là người đầu tiên giữ cương vị Bộ trưởng. Tháng 3-1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập, đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhận chức vụ mới, chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ do Huỳnh Thúc Kháng đảm trách.

    Trên cương vị người đứng đầu Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tiến hành kiện toàn nhân sự và bộ máy của Bộ Nội vụ, ban hành nhiều nghị định, thông tư, hướng dẫn để hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của chính quyền cách mạng, chế độ công chức, công vụ, bảo đảm an ninh trật tự trị an. Đóng góp quan trọng nhất của Bộ Nội vụ trong thời kỳ này là đã khẩn trương xây dựng, củng cố, bảo vệ thành công hệ thống chính quyền cách mạng; xây dựng nền móng chế độ mới, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc tạo nên sức mạnh nội lực cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Bên cạnh nhiệm vụ phụ trách Bộ Nội vụ, Hồ Chí Minh còn mời Huỳnh Thúc Kháng tham gia công tác ngoại giao, như cử Cụ vào Ủy ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề sẽ đàm phán ở Hội nghị Fontainebleau (22/5/1946), cùng Người tiếp khách nước ngoài nhất là với các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc … qua đó tạo nên sự vị nể của các phái đoàn đối với chính phủ và đất nước Việt Nam. Điều này về sau được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại: “Chính phủ ta có vị tiến sĩ văn chương, chúng (Lư Hán, Tiêu Văn – TG) cũng trọng”(7).

    Ngày 27/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) được thành lập. Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Hội trưởng, Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự. Trong điều kiện Mặt trận Việt Minh có những hạn chế trong việc quy tụ, đoàn kết các tầng lớp trên tham gia vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Hội liên hiệp quốc dân mà Huỳnh Thúc Kháng làm Hội trưởng đã nhanh chóng khoả lấp khoảng trống đó.

    Đặc biệt, với sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 82 ngày 29/5/1946 ủy nhiệm cụ Huỳnh làm quyền Chủ tịch Chính phủ trong thời gian thực hiện chuyến công du sang Pháp đã khẳng định về sự trọng thị, tín nhiệm tuyệt đối của Người với Huỳnh Thúc Kháng. Đó không phải là hành động sách lược tạm thời hay chỉ là việc làm để thu hút các lực lượng không cộng sản đi theo cách mạng. Ẩn chứa trong đó là cả một tư duy chính trị sắc sảo, tầm nhìn và bản lĩnh của nhà lãnh đạo tài ba khi lựa chọn một người không phải đảng viên đảng cộng sản đảm nhiệm vi trí đứng đầu Nhà nước. Có thể nói, trong hoàn cảnh hiện tại của đất nước khi đó thì sự ủy nhiệm đó là logic và hợp lý nhất. Bởi trong bối cảnh năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy không ai đủ tư cách hơn Huỳnh Thúc Kháng, nhà chí sĩ lão thành không đảng phái, đức độ và khẳng khái; không ai hiệu quả hơn cụ Huỳnh - con người mang đậm cốt cách dung hoà trong việc quy tụ, đoàn kết các đảng phái, các tầng lớp khác nhau trong xã hội, nhất là những người thuộc tầng lớp trên, vốn chịu ảnh hưởng tư tưởng dân chủ tư sản, lại chưa hiểu nhiều, thậm chí còn ác cảm về đảng Cộng sản và con đường cách mạng do những người cộng sản lãnh đạo.

    Trước ngày đi Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh có dặn lại cụ Huỳnh Thúc Kháng mấy câu tâm huyết: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ cùng với anh em giải quyết cho. Mong cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến”(8).

    Đáp lại sự kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Huỳnh Thúc Kháng đã có những xử lý đúng đắn, sáng suốt trong việc điều hành bộ máy Nhà nước, giải quyết được nhiều khó khăn trong các vấn đề nội trị và ngoại giao. Nắm vững tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Huỳnh Thúc Kháng đã hành động một cách cương quyết nhưng khéo léo, chỉ đạo lực lượng của ta trấn áp bọn phản cách mạng không chỉ vụ án ở phố Ôn Như Hầu mà tiêu diệt toàn bộ quân đội của Việt Quốc, Việt Cách từ Vĩnh Yên cho đến Yên Bái, Lào Cai. Đến khi Hồ Chí Minh về thì mọi việc đã được giải quyết ổn thỏa. Việc xử lý kiên quyết và sử dụng bạo lực cách mạng trong trường hợp cần thiết là một sự thay đổi lớn trong con người vốn có tính cách dung hoà, theo chủ thuyết cải lương, thậm chí đã từng bị đánh giá là “bất bình với đế quốc, nhưng sợ phong trào cách mạng”(9). Có thể nói làm việc với Hồ Chí Minh, Huỳnh Thúc Kháng không chỉ được đóng góp nhiều nhất trí tuệ và sức lực cho dân tộc mà chính bản thân Cụ đã có những thay đổi lớn về quan điểm, về phương pháp phù hợp với tình hình cách mạng.

    Nhận thức rõ một trong những cái “bất biến” lớn nhất, quan trọng nhất của cách mạng là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, đối phó với âm mưu chia rẽ của bọn phản động và sự chia rẽ trong nội bộ, ngày 15/7/1946, Huỳnh Thúc Kháng tổ chức cuộc họp báo tại Hà Nội nhằm khẳng định lập trường, nguyên tắc đoàn kết với các tổ chức, đảng phái. Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng chỉ rõ:

    “1. Sự đoàn kết là cần nhưng đoàn kết là cốt hợp lực lượng để kiến thiết, để ủng hộ ngoại giao, nói chung là để xây dựng nền dân chủ cộng hòa, nhưng không thể vin vào hai chữ đoàn kết mà làm những việc phi pháp.

    2. Đối với Việt Nam quốc dân Đảng thì tôi thiết tưởng những anh em đảng viên chân chính Việt Nam Quốc dân Đảng sẽ theo truyền thống nhà chí sĩ Nguyễn Thái Học, nghĩa là vì quốc vì dân.

    Chính phủ và riêng tôi bao giờ cũng bảo đảm sự tự do hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng trong vòng pháp luật”(10).

    Chính sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đó đã giữ vững chính quyền cách mạng và nền độc lập non trẻ trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang nước Pháp và là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

    Những nỗ lực của cụ Huỳnh đã được Hồ Chí Minh ghi nhận: “trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh, … mà đã giải quyết được nhiều khó khăn”(11).

    Năm 1947, mặc dù tuổi cao sức yếu nhưng Cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn hăng hái đảm nhận nhiệm vụ thay mặt Chính phủ Trung ương và Mặt trận Liên Việt đi kinh lý các tỉnh Trung Bộ để thăm hỏi đồng bào và giải thích rõ cho nhân dân về đường lối kháng chiến kiến quốc của Trung ương, đồng thời vận động nhân dân tích cực chuẩn bị cho công cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trên đường công tác, cụ Huỳnh lâm bệnh nặng. Biết mình khó qua khỏi, Cụ đã gửi bức điện cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với lời vĩnh biệt “Chào vĩnh quyết”. Cả cuộc đời một con người “không màng danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. … chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập…”(12) đã cống hiến trọn vẹn cho dân tộc và tỏa sáng rực rỡ nhất, đóng góp nhiều hơn hết thảy trong thời gian ngắn ngủi tham gia Chính phủ mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.


    Theo tuyengiao.vn
    BTG-TĐBN

     

  • THANH NIÊN XUNG PHONG: BIỂU TƯỢNG TINH THẦN YÊU NƯỚC CỦA TUỔI TRẺ VIỆT NAM

    23/05/2022 bởi Tinh Doan Bac Ninh

    Lực lượng Thanh niên xung phong nói riêng cũng như thế hệ trẻ Việt Nam nói chung góp phần viết nên những trang sử xanh nối tiếp bề dày truyền thống đóng góp cho Tổ quốc của tuổi trẻ.

    Thanh niên các dân tộc Tây Nguyên cùng bộ đội kéo pháo trong chiến dịch Tây Nguyên, mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. (Ảnh: TTXVN)

    Với tầm nhìn chiến lược về vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, cách đây 71 năm, ngày 15/7/1950, Bác Hồ đã chỉ đạo Đảng đoàn Ban Thanh vận Trung ương và Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam tổ chức đội thanh niên tập trung dài ngày để phục vụ kháng chiến và kiến quốc, khi kháng chiến thành công, lấy tên là: “Đội Thanh niên xung phong công tác”.

    Quyết định lịch sử ấy đã khai sinh ra Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương đầu tiên tại Núi Hồng, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, gồm 3 Liên phân đội với 225 cán bộ, đội viên.

    Đầu tháng 8/1950, Đội Thanh niên xung phong công tác công tác Trung ương xuất quân phục vụ Chiến dịch Biên giới, đã lập công xuất sắc, được Bác Hồ gửi thư khen, được Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tuyên dương: “Đội Thanh niên xung phong công tác đã nêu cao tinh thần tích cực xung phong, triệt để tuân theo kỷ luật chiến trường, tổ chức chặt chẽ, gương mẫu trong mọi nhiệm vụ…”.

    Từ khi thành lập tới nay, 4 câu thơ của Bác tặng Thanh niên xung phong: “Không có việc gì khó / Chỉ sợ lòng không bền / Đào núi và lấp biển / Quyết chí ắt làm nên” đã trở thành lời giáo huấn, là phương hướng tư tưởng, hành động cho lực lượng Thanh niên xung phong nói riêng cũng như thế hệ trẻ Việt Nam nói chung, góp phần viết nên những trang sử xanh nối tiếp bề dày truyền thống đóng góp cho Tổ quốc của tuổi trẻ.

    LỰC LƯỢNG MŨI NHỌN TRÊN CÁC TRẬN TUYẾN KHÓ KHĂN NHẤT CỦA ĐẤT NƯỚC

    Ra đời trong kháng chiến chống Pháp, theo tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, lực lượng Thanh niên xung phong đã không ngừng rèn luyện, phấn đấu, xung kích đi đầu vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, lao động quên mình, anh dũng hy sinh trong phục vụ chiến đấu, tham gia chiến đấu trong các thời kỳ kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần làm nên những kỳ tích lịch sử của dân tộc.

    Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, gần 5.000 cán bộ, đội viên Thanh niên xung phong đã hoạt động ngày đêm, sát cánh cùng các đơn vị lực lượng vũ trang, giao thông vận tải, dân công, đồng bào các dân tộc Việt Bắc và Tây Bắc hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ quan trọng: Phục vụ chiến đấu, tham gia chiến đấu, mở đường, đảm bảo giao thông, rà phá bom mìn, vận chuyển và chăm sóc thương bệnh binh, mai táng liệt sỹ... góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

    Ngay sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, thực hiện sự chỉ đạo của Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và Đoàn Thanh niên, lực lượng Thanh niên xung phong được tổ chức lại, chuyển sang làm nhiệm vụ mới. Gần 10.000 cán bộ, đội viên Thanh niên xung phong đã có mặt ở những nơi khó khăn gian khổ nhất, lao động quên mình trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục phát triển kinh tế và thi đua tình nguyện hoàn thành vượt mức kế hoạch trong lao động sản xuất, công tác và học tập, cùng tuổi trẻ cả nước xây dựng hàng trăm công trình kinh tế - xã hội.

    Những nhiệm vụ, công trình chiến lược, quan trọng đều có dấu ấn, sự đóng góp to lớn của lực lượng Thanh niên xung phong, như: mở đường chiến lược Lai Châu - Ma Lù Thàng (biên giới Việt - Trung) và khai thông mở dòng Nậm Na; tiếp quản Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng; khôi phục các tuyến đường sắt; tham gia xây dựng các công trình công nghiệp; đảm nhận xây dựng các công trình kinh tế lấy tên là Công trình thanh niên như: xây dựng Nhà máy Cơ khí trung quy mô; lò cao Khu Gang thép Thái Nguyên; Thủy điện Thác Bà; các tuyến đường sắt: Đông Anh - Thái Nguyên, Thanh Hóa - Vinh; mở các tuyến đường giao thông: 12B Hòa Bình, Hà Giang - Đồng Văn; Đường 426B; Công trình Đại thủy nông Nậm Rốm Điện Biên…

    Trong giai đoạn 1955-1964, lực lượng Thanh niên xung phong đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần kiến thiết, xây dựng các công trình cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng của Chủ nghĩa xã hội miền Bắc, làm nên một hậu phương lớn vững chắc đảm bảo sức người, sức của phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất đất nước. 87 cán bộ, đội viên Thanh niên xung phong đã hy sinh trên các công trường mở đường.

    Khi đế quốc Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, thực hiện lời hiệu triệu của Bác Hồ, Chỉ thị số 71/TTg-CN ngày 21/6/1965 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức các Đội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước phục vụ công tác giao thông vận tải và Nghị quyết Đại hội Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng miền Nam lần thứ nhất ngày 26/3/1965 về tổ chức lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, trên 28 vạn nam nữ thanh niên đã tình nguyện tham gia, lên đường với quyết tâm “Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “ở đâu chiến trường cần là Thanh niên xung phong có mặt”, “ở đâu có giặc là Thanh niên xung phong xuất quân”.

    Chiến sỹ giải phóng phất cao lá cờ chiến thắng trên sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)

    Lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước miền Bắc đã có mặt trên khắp mọi tuyến đường ra trận, hăng hái chiến đấu, lao động sáng tạo, học tập, rèn luyện, sẵn sàng hy sinh anh dũng, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ: mở đường chiến lược; vận chuyển hậu cần; trực chiến, chốt giữ những trọng điểm địch đánh phá ác liệt, san lấp hố bom, sửa chữa cầu đường, tháo gỡ bom mìn, hướng dẫn xe đi và chiến đấu đảm bảo mạch máu giao thông thông suốt trong mọi tình huống, góp phần quan trọng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

    Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Thanh niên xung phong chuyển sang thực hiện nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng phát triển kinh tế, tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và tiếp tục hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ.

    VIẾT TIẾP TRANG SỬ TRUYỀN THỐNG

    Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mở ra một trang sử mới. Tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang trong kháng chiến, lực lượng Thanh niên xung phong thi đua thực hiện các phong trào như: “Ba xung kích làm chủ tập thể”, “Thanh niên lập nghiệp, tuổi trẻ giữ nước”, “5 xung kích, 4 đồng hành” , “Thanh niên tình nguyện, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

    Với lực lượng trên 20.000 người, Thanh niên xung phong các tỉnh, thành phố miền Nam, Đông Nam bộ, miền Trung, Tây Nguyên và miền Bắc, đã lên đường có mặt trên những tuyến đầu gian khó nhất, những nơi bị chiến tranh tàn phá, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, để thực hiện các nhiệm vụ khắc phục hậu quả sau chiến tranh, rà phá bom mìn, làm sạch môi trường, khai hoang, phục hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, phát triển giao thông, sắp xếp ổn định dân cư gắn với việc giáo dục, dạy nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên và các đối tượng khác; làm nhiệm vụ công ích, giải quyết những vấn đề cấp bách khó khăn góp phần thực hiện các chương trình phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng xây dựng đất nước.

    Trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, tổ chức Thanh niên xung phong tiếp tục được củng cố, chuyển đổi mô hình hoạt động phù hợp với giai đoạn mới nhằm phát huy tinh thần xung phong tình nguyện của thanh niên tham gia xây dựng phát triển kinh tế - xã hội gắn với an ninh quốc phòng ở khu vực miền núi, biên giới hải đảo, vùng sâu vùng xa có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; giữ gìn trật tự và hạn chế các tệ nạn xã hội ở đô thị.

    Đoàn viên thanh niên tặng khẩu trang phòng dịch COVID-19. (Ảnh: Hồng Giang/TTXVN)

    Cán bộ, đội viên Thanh niên xung phong là lực lượng xung kích thực hiện những nhiệm vụ chính trị khó khăn của các địa phương, xây dựng những mô hình phát triển kinh tế-xã hội có hiệu quả, góp phần khẳng định vai trò của Đoàn Thanh niên, tiêu biểu như các chương trình: xóa nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, giải quyết việc làm, phát triển thủy sản, trồng mới 5 triệu ha rừng, tham gia Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới - Đô thị văn minh”...

    Trong những năm tháng đất nước gian nguy, hàng vạn Thanh niên xung phong Việt Nam đã sẵn sàng, tình nguyện lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, cống hiến tuổi xuân, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh để phục vụ kháng chiến, kiến quốc.

    Trong thời bình, các thế hệ cựu Thanh niên xung phong đã vượt qua khó khăn, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống, thắt chặt tình đồng đội. Trong đó, phải kể đến phong trào “Cựu Thanh niên xung phong làm kinh tế giỏi - Vì nghĩa tình đồng đội” do Trung ương Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam phát động, với nhiều nội dung, phương thức phong phú, đáp ứng nguyện vọng của cựu Thanh niên xung phong, đóng góp vào công tác xã hội và cải thiện đời sống gia đình hội viên.

    Hưởng ứng phong trào, hàng vạn cựu Thanh niên xung phong trên cả nước đã triển khai học tập, xây dựng và phát triển nhiều mô hình kinh tế thành công, nhiều người tìm tòi, sáng tạo, vượt khó đi lên từ hai bàn tay trắng. Họ tận dụng đất đai, nguồn vốn, sức lao động của con người để sản xuất, kinh doanh, bứt phá, lăn lộn với thương trường như trong chiến trường đánh Mỹ, đánh Pháp.

    Các cựu Thanh niên xung phong đã năng động, sáng tạo, mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăm sóc vật nuôi, cây trồng; phát triển sản xuất, kinh tế hàng hóa, dịch vụ, làm giàu cho bản thân và gia đình; đồng thời có điều kiện giúp đỡ đồng đội phát triển kinh tế. Qua đó, xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, phát huy tinh thần lao động cần cù, vượt khó, dám nghĩ dám làm, thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước.

    Tại Lễ kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống Lực lượng Thanh niên xung phong vào ngày 15/7/1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nhận định về lịch sử, chiến công hào hùng của lực lượng Thanh niên xung phong trong các thời kỳ cách mạng: “Ra đời trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Pháp, theo tư tưởng lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vai trò và tính chất của Thanh niên xung phong là những người trẻ tuổi đi đầu, sẵn sàng vượt qua mọi gian khổ, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân, được thể hiện rõ rệt trong mọi nhiệm vụ được giao".

    "Không phải chỉ có sự gan dạ, tinh thần lao động bền bỉ mà còn phải nói đến những sáng kiến, những suy nghĩ táo bạo và lòng trung thành vô hạn đối với Tổ quốc đã giúp cho Thanh niên xung phong lập nên những kỳ tích, xứng đáng là lực lượng mũi nhọn trên các trận tuyến khó khăn nhất của đất nước suốt hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thể hiện được khí phách và tinh hoa của dân tộc Việt Nam”.

    Nhân Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam (15/7/1950-15/7/2020), đồng chí Nguyễn Xuân Phúc khi đó là Thủ tướng Chính phủ khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi nhớ và tri ân những cống hiến hy sinh to lớn của các thế hệ Thanh niên xung phong.

    Trong suốt chặng đường xây dựng và cống hiến, lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

    Từ phong trào cách mạng này đã sản sinh nhiều tập thể, cá nhân anh hùng tiêu biểu của một thế hệ thanh niên anh hùng, của dân tộc Việt Nam anh hùng.

    Với những đóng góp to lớn đó, lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam xứng đáng với danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân và những phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Thành đồng Tổ quốc của Đảng, Nhà nước trao tặng.

    Truyền thống cách mạng, phẩm chất của Thanh niên xung phong trong kháng chiến được phát huy, nuôi dưỡng đến hôm nay và là hình mẫu để thế hệ trẻ học hỏi, tiếp bước cha anh, cùng chung sức thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

    Theo TTXVN

    Ban Tuyên giáo TĐBN tổng hợp.