khach san bac ninh

THEO DẤU CHÂN BÁC
Tue, Day 28/05/2019 00:00 AM

Bắc Ninh vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng và phát triển

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người khởi xướng, xây dựng và hết lòng chăm lo cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

(Ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Kế thừa truyền thống quý báu đó, trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc thì phải có lực lượng và có thành phần làm nòng cốt. Người chỉ rõ "Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết". Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc gồm có 3 nội dung chủ yếu, gồm: Vị trí, vai trò của đại đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng; nội dung đại đoàn kết dân tộc; hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc. 

Khi đề cập đến vị trí, vai trò của đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài, là vấn đề sống còn, quyết định thành công của cách mạng. Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng nhằm hình thành và phát triển sức mạnh to lớn của toàn dân trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc, của nhân dân. Theo Người, đoàn kết làm nên sức mạnh và là cội nguồn của mọi thành công: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”(1); “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”(2). Để đánh bại các thế lực đế quốc, thực dân giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thôi là chưa đủ, cách mạng muốn thành công và “thành công đến nơi”, phải tập hợp tất cả các lực lượng, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Người nhận định, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX bị thất bại có một nguyên nhân sâu xa là cả nước không đoàn kết được thành một khối thống nhất. Muốn cách mạng thành công phải có lực lượng cách mạng, muốn có lực lượng cách mạng phải thực hiện đoàn kết. Người viết: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm trọn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho chúng ta”(3). Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc được xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong tất cả các lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách đến hoạt động thực tiễn.

Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân. Đây là luận điểm sáng tạo, đặc sắc. Vì theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, không phải là việc một hai người có thể làm được. Đại đoàn kết toàn dân có nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp - dân tộc để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một lực lượng nào. Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, tinh thần cộng đồng của dân tộc Việt Nam; phải có lòng khoan dung, độ lượng, tin vào nhân dân, tin vào con người; đồng thời luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, thực hiện đại đoàn kết với phương châm “nước lấy dân làm gốc”. Truyền thống này được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc, trở thành giá trị bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi người Việt Nam, được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Đó chính là cội nguồn, sức mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai, địch họa, làm cho đất nước trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững. Người cũng nhấn mạnh, trong mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có những ưu, nhược điểm. Cho nên, vì lợi ích của cách mạng phải có lòng khoan dung, độ lượng, trân trọng cái phần thiện dù là nhỏ nhất ở mỗi con người mới có thể tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. Theo Người: trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn vẻ vang(4).

Về hình thức của khối đại đoàn kết dân tộc, Người chỉ rõ, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng, để làm cách mạng xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Do đó, đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm, tư tưởng mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành sức mạnh vật chất, lực lượng vật chất có tổ chức và tổ chức đó chính là Mặt trận dân tộc thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của nhân dân Việt Nam, nơi quy tụ, đoàn kết, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức, cá nhân yêu nước ở trong và ngoài nước cùng nhau phấn đấu vì mục tiêu chung là hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ các nguyên tắc cơ bản về xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất, đó là: phải được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng; phải hoạt động trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân; phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, bảo đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi, bền vững và đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, chân thành, thân ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. 

CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC ĐẠI ĐOÀN KẾT TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

- Ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về thành lập Hội Phản đế đồng minh - tổ chức tiền thân đầu tiên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hội Phản đế đồng minh đã tuyên truyền, vận động nhân dân dấy lên cao trào phản đế mạnh mẽ trong cả nước, với đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

- Trong những năm 1936 – 1939, Mặt trận Dân chủ Đông Dương và Mặt trận phản đế Đông Dương đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân chống đế quốc và bè lũ tay sai, đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

- Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Minh ra đời đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, thu hút mọi giới đồng bào yêu nước, tạo thành cao trào đánh Pháp - đuổi Nhật và là một nhân tố quyết định đưa Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

- Ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) ra đời đã mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hội Liên Việt đã cùng với Mặt trận Việt Minh huy động sức mạnh của nhân dân làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng còn non trẻ và đối phó có hiệu quả với thù trong, giặc ngoài, để vượt qua thử thách trước tình thế cách mạng và vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc.

- Ngày 03/3/1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt đã động viên sức mạnh toàn dân, toàn quân tập trung sức người, sức của đẩy mạnh cuộc kháng chiến với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến” làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến thắng lợi.

- Thời kỳ 1955 - 1975, Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng hậu phương CNXH ở miền Bắc, chi viện cho chiến trường miền Nam và tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước. Cả ba tổ chức: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955), Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960), Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam (20/4/1968) cùng nhau phối hợp chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, tập hợp và phát huy đến mức cao nhất sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau ngày đất nước thống nhất, để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, ở Đại hội họp từ ngày 31/1 đến 4/2/1977 tại Hội trường Thống nhất, thành phố Hồ Chí Minh, đã diễn ra việc hợp nhất 3 tổ chức: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam, lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhờ tinh thần đoàn kết, thống nhất trong các ngành, các giới, đất nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

BẮC NINH XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

Phát huy truyền thống đoàn kết trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của ông cha, tỉnh Bắc Ninh đã tích cực phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Đối với lĩnh vực chính trị, tỉnh tăng cường xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội; quán riệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản về quy chế dân chủ ở cơ sở ( Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Trung ương về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở;  Kết luận số 65-KL/TW ngày 04/02/2010 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW; Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ về việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập…). Đối với lĩnh vực kinh tế, tỉnh đề ra đường lối chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ; phát triển nhiều thành phần kinh tế; quy hoạch vùng kinh tế phù hợp với từng địa phương. Đối với lĩnh vực văn hóa – xã hội, tỉnh chú trọng phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ; thực hiện chính sách thu hút, tuyển dụng và sử dụng nhân tài. Trung tâm hành chính công của tỉnh, của các huyện, thị xã, thành phố được xây dựng và đi vào hoạt động nhằm giải quyết các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp và người dân một cách hiệu quả. Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống nhân dân, nhất là người có công, gia đình chính sách, người nghèo, người khuyết tật… được tỉnh đặc biệt quan tâm và ngày càng được nâng lên, đi trước một bước so với cả nước như: Hỗ trợ xây nhà, hỗ trợ bảo hiểm, hỗ trợ trợ cấp xã hội, hỗ trợ điện chiếu sáng…Các vấn đề bức xúc của nhân dân cũng được tỉnh chú ý giải quyết. Văn hóa phát triển theo hướng dân tộc, khoa học, đại chúng và mang đậm bản sắc Kinh Bắc - Bắc Ninh. Lực lượng quốc phòng – an ninh được xây dựng theo hướng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại nhưng vẫn đảm bảo nền quốc phòng toàn dân. Đặc biệt, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Với sự đoàn kết, thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, trong quý 1 năm 2019, chúng ta đạt được một số kết quả quan trọng: Lạm phát được giữ ở mức thấp; vốn đầu tư phát triển và thu hút FDI vẫn gia tăng (từ đầu năm đến nay thu hút 32 dự án FDI với tổng vốn 453,8 triệu USD, 10 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn 393,6 tỷ đồng); thu ngân sách quý 1 tăng khá, ước thu 9.637 tỷ đồng, đạt 35,2% dự toán năm, tăng 7,3% so cùng kỳ; các hoạt động thương mại vẫn diễn ra sôi động, một số ngành dịch vụ duy trì mức tăng trưởng khá. Công tác quy hoạch đô thị, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, giao thông, đất đai, môi trường được tập trung chỉ đạo; tổ chức tốt các hoạt động trước, trong và sau Tết Nguyên đán; tổ chức thành công các hoạt động Festival về miền Quan họ 2019 và Lễ kỷ niệm 10 năm Dân ca Quan họ Bắc Ninh được Unesco công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm; cải cách hành chính được đẩy mạnh; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đạt được kết quả tích cực.

Để tăng cường sự đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, trong thời gian tới các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và các địa phương cần tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chủ trương của Trung ương và của tỉnh về thực hiện các nhiệm vụ chính trị năm 2019; chỉ đạo quyết liệt 3 lĩnh vực có nhiều bức xúc trong nhân dân: Vấn đề môi trường; vấn đề khiếu nại tố cáo, giải quyết các điểm phức tạp trên địa bàn tỉnh, nhất là những vụ việc khiếu kiện tập trung đông người; vấn đề cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính. Đẩy mạnh chính sách an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh, xây dựng Đảng, nhất là thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 kháo XII và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

-----------------------------------

(1), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 9, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 177, 145

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr. 119

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr. 280-81

(5), (6), (7), (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 158, 164-165, 165, 165-166

Đặng Khánh Toàn,

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy