khach san bac ninh

Hội Sinh viên
Thu, Day 07/09/2017 00:00 AM

TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN VỀ CỘNG ĐỒNG ASEAN

     CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA ASEAN

     I. Cơ cấu tổ chức:

     Cơ cấu tổ chức của ASEAN hiện nay như sau: 

     1. Hội nghị Cấp cao ASEAN (ASEAN Summit):

     Đây là cơ quan quyền lực cao nhất của ASEAN, họp chính thức 3 năm một lần và họp không chính thức ít nhất 1 lần trong khoảng thời gian 3 năm đó. Cho đến nay đã có 7 cuộc Hội nghi Cấp cao ASEAN. Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VIII sẽ được tổ chức tại Cam-pu-chia vào tháng 11/2002.

     2. Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (ASEAN Ministerial Meeting-AMM)

     Theo Tuyên bố Băng cốc năm 1967, AMM là hội nghị hàng năm của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN có trách nhiệm đề ra và phối hợp các hoạt động của ASEAN, có thể họp không chính thức khi cần thiết.

     3. Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Ministers-AEM) 

     AEM họp chính thức hàng năm và có thể họp không chính thức khi cần thiết. Trong AEM có Hội đồng AFTA (Khu vực mậu dịch tự do ASEAN) được thành lập theo quyết định của Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 năm 1992 tại Xin-ga-po để theo dõi, phối hợp và báo cáo việc thực hiện chương trình ưu đãi quan thuế có hiệu lực chung (CEPT) của AFTA.

     4. Hội nghị Bộ trưởng các ngành

     Hội nghị Bộ trưởng của một ngành trong hợp tác kinh tế ASEAN sẽ được tổ chức khi cần thiết để thảo luận sự hợp tác trong ngành cụ thể đó. Hiện có Hội nghị Bộ trưởng năng lượng, Hội nghị Bộ trưởng Nông nghiệp, Lâm nghiệp. Các Hội nghị Bộ trưởng ngành có trách nhiệm báo cáo lên AEM.

     5. Các hội nghị bộ trưởng khác 

     Hội nghị Bộ trưởng của các lĩnh vực hợp tác ASEAN khác như y tế, môi trường, lao đọng, phúc lợi xã hội, giáo dục, khoa học và công nghệ, thông tin, luật pháp có thể được tiến hành khi cần thiết để điều hành các chương trình hợp tác trong các lĩnh vực này.

     6. Hội nghị liên Bộ trưởng (Join Ministerial Meeting-JMM)

    JMM được tổ chức khi cần thiết để thúc đẩy sự hợp tác giữa các ngành và trao đổi ý kiến về hoạt động của ASEAN. JMM bao gồm các Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Kinh tế ASEAN.

     7. Tổng thư ký ASEAN

     Được những Người đứng đầu Chính phủ ASEAN bổ nhiệm theo khuyến nghị của Hội nghị AMM với nhiệm kỳ là 3 năm và có thể gia hạn thêm, nhưng không quá một nhiệm kỳ nữa; có hàm Bộ trưởng với quyền hạn khởi xướng, khuyến nghị và phối hợp các hoạt động của ASEAN, nhằm giúp nâng cao hiệu quả các hoạt động và hợp tác của ASEAN. Tổng thư ký ASEAN được tham dự các cuộc họp các cấp của ASEAN, chủ toạ các cuộc họp của ASC thay cho Chủ tịch ASC trừ phiên họp đầu tiên và cuối cùng. 

     8. Uỷ ban thường trực ASEAN (ASEAN Standing Committee-ASC)

     ASC bao gồm chủ tịch là Bộ trưởng Ngoại giao của nước đăng cai Hội nghị AMM sắp tới, Tổng thư ký ASEAN và Tổng Giám đốc của các Ban thư ký ASEAN quốc gia. ASC thực hiện công việc của AMM trong thời gian giữa 2 kỳ họp và báo cáo trực tiếp cho AMM. 

     9. Cuộc họp các quan chức cao cấp (Senior Officials Meeting-SOM) 

     SOM được chính thức coi là một bộ phận của cơ cấu trong ASEAN tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 3 tại Ma-ni-la 1987. SOM chịu trách nhiệm về hợp tác chính trị ASEAN và họp khi cần thiết; báo cáo trực tiếp cho AMM.

     10. Cuộc họp các quan chức kinh tế cao cấp (Senior Economic Officials Meeting-SEOM) 

     SEOM cũng đã được thể chế hoá chính thức thành một bộ phận của cơ cấu ASEAN tại Hội nghị Cấp cao Ma-ni-la 1987. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 4 năm 1992, 5 uỷ ban kinh tế ASEAN đã bị giải tán và SEOM  được giao nhiệm vụ theo dõi tất cả các hoạt động trong hợp tác kinh tế ASEAN . SEOM họp thường kỳ và báo cáo trực tiếp cho AEM.

     11.  Cuộc họp các quan chức cao cấp khác

     Ngoài ra có các cuộc họp các quan chức cao cấp về môi trường, ma tuý cũng như của các uỷ ban chuyên ngành ASEAN như phát triển xã hội, khoa học và công nghệ, các vấn đề công chức, văn hoá và thông tin. Các cuộc họp này báo cáo cho ASC và Hội nghị các Bộ trưởng liên quan. 

     12.  Cuộc họp tư vấn chung (Joint Consultative Meeting-JCM)

     Cơ chế họp JCM bao gồm Tổng thư ký ASEAN, SOM, SEOM, các Tổng giám đốc ASEAN. JCM được triệu tập khi cần thiết dưới sự chủ toạ của Tổng thư ký ASEAN để thúc đẩy sự phối hợp giữa các quan chức liên ngành. Tổng thư ký ASEAN sau đó thông báo kết quả trực tiếp cho AMM và AEM.

     13.  Các cuộc họp của ASEAN với các Bên đối thoại

     ASEAN có 11 Bên đối thoại: Ô-xtrây-lia, Ca-na-đa, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Niu Di-lân, Mỹ và UNDP, Nga, Trung Quốc, ấn Độ. ASEAN cũng có quan hệ đối thoại theo từng lĩnh vực Pa-kix-tan.

     Trước khi có cuộc họp với các Bên đối thoại, các nước ASEAN tổ chức cuộc họp trù bị để phối hợp có lập trường chung. Cuộc họp này do quan chức cao cấp của nước điều phối (Coordinating Country) chủ trì và báo cáo cho ASC.

     14.  Ban thư ký ASEAN quốc gia 

     Mỗi nước thành viên ASEAN đều có Ban thư ký quốc gia đặt trong bộ máy của Bộ Ngoại giao để tổ chức, thực hiện và theo dõi các hoạt động liên quan đến ASEAN của nước mình. Ban thư ký quốc gia do một Tổng Vụ trưởng phụ trách

     15.  Uỷ ban ASEAN ở các nước thứ ba 

     Nhằm mục đích tăng cường trao đổi và thúc đẩy mối quan hệ giữa ASEAN với bên đối thoại đó và các tổ chức quốc tế ASEAN thành lập các uỷ ban tại các nước đối thoại. Uỷ ban này gồm những người đứng đầu các cơ quan ngoại giao của các nước ASEAN tại nước sở tại. Hiện có 11 Uỷ ban ASEAN tại: Bon (CHLB Đức), Bru-xen (Bỉ), Can-be-ra (Ô-xtrây-li-a), Ge-ne-vơ (Thuỵ Sĩ), Luân-đôn (Anh), Ôt-ta-oa (Ca-na-da), Pa-ri (Pháp), Xơ-un (Hàn quốc), Oa-sinh-tơn (Mỹ) và Oen-ling-tơn (Niu-di-lơn). Chủ tịch các uỷ ban này báo cáo cho ASC và nhận chỉ thị từ ASC.

     16. Ban thư ký ASEAN

     Ban thư ký ASEAN được thành lập theo Hiệp định ký tại Hội nghị Cấp cao lần thứ hai Ba-li, 1976 để tăng cường phối hợp thực hiện các chính sách, chương trình và các hoạt động giữa các bộ phận khác nhau trong ASEAN, phục vụ các hội nghị của ASEAN.

     II. Các nguyên tắc hoạt động chính của ASEAN

     1. Các nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các Quốc gia thành viên và với bên ngoài:

     Trong quan hệ với nhau, các nước ASEAN luôn tuân theo 5 nguyên tắc chính đã được nêu trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam á (Hiệp ước Ba-li), kí tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ I tại Ba-li năm 1976, là:

     a/ Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc;

     b/ Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài;

     c/ Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

     d/ Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thân thiện;

     e/ Không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực;

     f/ Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả;

     2.  Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội:

     a/ Việc quyết định các chính sách hợp tác quan trọng cũng như trong các lĩnh vực quan trọng của ASEAN dựa trên nguyên tắc nhất trí (consensus), tức là một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua. Nguyên tắc này đòi hỏi phải có quá trình đàm phán lâu dài, nhưng bảo đảm được việc tính đến lợi ích quốc gia của tất cả các nước thành viên. Đây là một nguyên tắc bao trùm trong các cuộc họp và hoạt động của ASEAN .

     b/ Một nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động của ASEAN là nguyên tắc bình đẳng. Nguyên tắc này thể hiện trên 2 mặt. Thứ nhất, các nước ASEAN, không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều bình đẳng với nhau trong nghĩa vụ đóng góp cũng như chia xẻ quyền lợi. Thứ hai, hoạt động của tổ chức ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên, tức là các chức chủ toạ các cuộc họp của ASEAN từ cấp chuyên viên đến cấp cao, cũng như địa điểm cho các cuộc họp đó được phân đều cho các nước thành viên trên cơ sở luân phiên theo vần A,B,C của tiếng Anh.

     c/ Để tạo thuận lợi và đẩy nhanh các chương trình hợp tác kinh tế ASEAN , trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 ở Xin-ga-po tháng 2/1992, các nước ASEAN đã thoả thuận nguyên tắc 6-X, theo đó hai hay một số nước thành viên ASEAN có thể xúc tiến thực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nưóc còn lại chưa sẵn sàng tham gia, không cần phải đợi tất cả mới cùng thực hiện.

     3.  Các nguyên tắc khác:

     Trong quan hệ giữa các nước ASEAN đang dần dần hình thành một số các nguyên tắc, tuy không thành văn, không chính thức song mọi người đều hiểu và tôn trọng áp dụng như: nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện, không tuyên truyền tố cáo nhau quan báo chí, giữ gìn đoàn kết ASEAN và giữ bản sắc chung của Hiệp hội.

     VIỆT NAM THAM GIA ASEAN

     I. Tiến trình Việt Nam gia nhập ASEAN:

     Năm 1992 đánh dấu quá trình hội nhập khu vực của Việt Nam sau khi tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), và trở thành Quan sát viên, tham dự các Hội nghị Bộ trưởng ASEAN (AMM) hàng năm. Trong thời gian này, Việt Nam cũng bắt đầu tham gia các hoạt động của một số Ủy ban hợp tác chuyên ngành ASEAN.

     Tháng 7/1994, Việt Nam được mời tham dự cuộc họp đầu tiên của Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và trở thành một trong những thành viên sáng lập của Diễn đàn này.

     Ngày 28/7/1995, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 28 (AMM08) tại Bru-nây Đa-rút-xa-lam, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN và trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này. Kể từ đó đến nay, Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN và có những đóng góp tích cực trong việc duy trì đoàn kết nội khối, tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên cũng như giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, góp phần không nhỏ vào sự phát triển và thành công của ASEAN ngày hôm nay.

      II. Sự tham gia và đóng góp của Việt Nam trong ASEAN:

     Đóng góp đầu tiên đáng ghi nhận của Việt Nam trong ASEAN là vai trò tích cực của Việt Nam trong việc thúc đẩy kết nạp các nước Lào, Mi-an-ma và Căm-pu-chia vào ASEAN, qua đó, hoàn tất ý tưởng về một ASEAN bao gồm toàn bộ 10 quốc gia ở Đông Nam Á, đưa ASEAN trở thành tổ chức đại diện cho toản khu vực, chấm dứt thời kỳ chia rẽ giữa các nhóm nước, mở ra giai đoạn hợp tác hữu nghị cùng phát triển ở khu vực.

     Sư kiện mang dấu ấn đậm nét của Việt Nam trong ASEAN là việc tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội (12/1998)- chỉ 3 năm sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN và trong bối cảnh khu vực đang trong cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nghiêm trọng, được các nước thành viên ASEAN và dư luận quốc tế nói chung đánh giá cao. Với việc thông qua Chương trình Hành động Hà Nội, Cấp cao ASEAN 6 đã góp phần quan trọng tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh hợp tác, khôi phục hình ảnh ASEAN, đặc biệt định hướng cho sự phát triển và hợp tác của Hiệp Hội trong những năm kế tiếp để thực hiện Tầm nhìn 2020.

     Tiếp theo đó, từ tháng 7/2000-7/2001, Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Ủy ban thường trực ASEAN (ASC) khóa 34 và ARF, tổ chức và chủ trì thành công Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 34 ( AMM 34), Diễn đàn khu vực ASEAN lần thứ 8 (ARF 8), Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và các nước Đồng Bắc Á (ASEAN +3), Các Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao giữa ASEAN với các nước đối thoại ( PMC + 10) và với từng nước Đối thoại ( PMC +1) và Hội nghị sông Hằng- Sông Mê kông vào cuối tháng 7/2001. Trong năm Việt Nam làm chủ tịch, ASEAN và ARF  đã đạt được những kết quả quan trọng, tiếp tục phát triển đúng hướng, phù hợp với lợi ích của từng nước ASEAN và lợi ích của cả khu vực.

     + Trong thời gian này, với vai trò chủ trì và điều phối của Việt Nam, ASEAN đã phê chuẩn Nghị định thư thứ hai của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác, thông qua Quy chế của Hội đồng Tối cao TAC và tổ chức cuộc họp đầu tiên của Hội đồng trong dịp AMM 34; lần đầu tiên ASEAN đã tiến hành tham khảo trực tiếp với năm cường quốc hạt nhân trong khuôn khổ Hiệp định SEANWFZ. ASEAN cũng đạt nhiều tiến triển trong việc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông với Trung quốc, tạo tiền đề cho việc ra Tuyên bố về cách ứng xử của các bên liên quan ở Biển Đông sau này.

     + Trong năm Việt Nam làm chủ tịch ARF, tiến trình ARF tiếp tục tiến triển với việc thông qua một số tài liệu quan trọng như Tài liệu qui định về chức năng, nhiệm vụ của Chủ tịch ARF, Tài liệu về qui chế đăng ký chuyên gia ARF và Tài liệu về khái niệm và nguyên tắc của ngoại giao phòng ngừa. Các lĩnh vực Hợp tác trong ASEAN đã được tăng cường qua việc đẩy mạnh thực hiện Chương trình Hành động Hà Nội, thông qua Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát triển, triển khai Sáng kiến liên kết ASEAN ( IAI) nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, hỗ trợ thành viên mới hội nhập khu vực. Nhiều quyết định quan trọng và thiết thực đối với Hiệp hội cũng đã được triển khai trong thời gian Việt Nam đảm đương chức Chủ tịch như lập đường dây nóng ở các cấp lãnh đạo ASEAN, cải tiến hình thức, lề lối làm việc để ASEAN hoạt động thực chất và hiệu quả hơn.

     + Quan hệ của ASEAN với các nước đối thoại được tăng cường, ASEAN tiếp tục giữ được thế chủ động và vai trò trong các mối quan hệ này và đã thiết lập quan hệ chính thức với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Phong trào không liên kết, OAU, OAS, ECO, GCC, Nhóm Rio, SAARC… Quan hệ với EU đã có tiến triển đáng kể, hợp tác giữa các nước sông Hằng và Sông Mê Kong đã được khởi động, tiến trình ASEAN+3 đã tiến thêm một bước với việc thành lập Nhóm nghiên cứu Đông Á...

     Sau khi tổ chức thành công Cấp cao ASEAN 6 và hoàn thành tốt cương vị Chủ tịch Ủy ban Thường trực ASEAN khóa 34, tiếp tục phát huy vai trò đã được nâng cao trong ASEAN và trên cơ sở những thành tựu, kinh nghiệm tích lũy được trong vai trò chủ trì, điều phối các hoạt động của ASEAN, Việt Nam đã chủ động hơn trong việc tham gia hợp tác ASEAN, hướng hoạt động của ASEAN vào những nội dung hợp tác thiết thực, vừa đảm bảo lợi ích của Việt Nam, vừa thể hiện quan tâm chung của ASEAN và các nước đối thoại. Nhằm duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực, Việt Nam đã cùng với các nước ASEAN khác ký với Trung Quốc Tuyên bố chung ASEAN-Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (2002). Sau khi ký kết, Việt Nam đã chủ động đưa ra các biện pháp cụ thể để thực hiện Tuyên bố này, theo hướng triển khai hợp tác dần từng bước, trước hết trong những lĩnh vực khả thi, ít nhậy cảm.

     Các Bộ/ngành của Việt Nam đã từng bước chủ động và tham gia tích cực, hiệu quả hơn trong tất cả các lĩnh vực hợp tác chuyên ngành của ASEAN, từ hợp tác kinh tế, đến khoa học-công nghệ, môi trường, y tế, giáo dục, văn hóa-thông tin... Việt Nam đã tổ chức thành công một loạt các hoạt động quan trọng của ASEAN trong lĩnh vực hợp tác kinh tế-chuyên ngành như Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 33 (Hà Nội, 8/2001) và nhiều hội nghị quan trọng cấp Bộ trưởng hoặc quan chức cao cấp về hợp tác kinh tế ASEAN; Tuần lễ khoa học và công nghệ ASEAN (1998), Hội nghị Bộ trưởng Môi trường ASEAN (1998) và Diễn đàn Môi trường ASEAN (1999), Hội nghị Bộ trưởng Thông tin ASEAN (2000), Cuộc họp Ủy ban văn hóa thông tin ASEAN (2002), Hội nghị Bộ trưởng Lao động ASEAN (2002, 2004), Tuần văn hóa ASEAN lần II theo sáng kiến của Thủ tướng ta tại Hạ Long (2004), Hội thi tay nghề ASEAN (2004), Hội nghị ASEANAPOL (1999), Hội nghị các quan chức cao cấp về tội phạm xuyên quốc gia (SOMTC0003), Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về chống Tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC0005), Hội nghị Bộ trưởng Tư pháp ASEAN (2008), Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN (2008)… Quốc hội Việt Nam cũng tích cực tham gia các hoạt động của Liên minh nghị viện ASEAN (AIPA), trước đây là AIPO. Việt Nam đã chủ trì tổ chức thành công Đại hội đồng AIPO 23 năm 2002 và mới đây nhất là Đại hội đồng AIPA tại Hà Nội tháng 4/2010. Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia vào hàng trăm chương trình, dự án hợp tác trên các lĩnh vực khác nhau trong ASEAN, đồng thời chủ động đề xuất, chủ trì nhiều dự án hợp tác đa phương của khu vực.  

     Bước sang đầu thế kỷ XXI, khi ASEAN có những bước chuyển mạnh mẽ nhằm tăng cường liên kết khu vực, tận dụng những cơ hội mới đang mở ra cũng như ứng phó hiệu quả hơn với các thách thức mới, Việt Nam đã đóng vai trò tích cực cùng các nước ASEAN xây dựng và thông qua Tuyên bố hòa hợp ASEAN II tại Bali, In-đô-nê-xia (10/2003), đề ra những định hướng chiến lược cho sự phát triển của ASEAN, hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN năng động, tự cường và gắn kết vào năm 2020 (sau này ASEAN quyết định là vào năm 2015) với ba trụ cột chính là Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN (ASCC- ý tưởng về việc hình thành cộng đồng này là theo sáng kiến của Việt Nam); và các Kế hoạch hành động nhằm triển khai thực hiện Tuyên bố hòa hợp ASEAN II (11/2004 tại Viên chăn), bao gồm: Kế hoạch hành động của ASC, Kế hoạch hành động của ASCC, Hiệp định khung ASEAN về 11 lĩnh vực ưu tiên hội nhập và Chương trình Hành động Viên chăn (VAP).

     Trong quá trình soạn thảo và đi đến ký kết Hiến chương ASEAN, văn kiện quan trọng tạo khung pháp lý và khuôn khổ thể chế hỗ trợ ASEAN thực hiện mục tiêu xây dựng Cộng đồng, Việt Nam đã chủ động và tích cực tham gia ngay từ đầu vào quá trình hình thành ý tưởng, sau đó là soạn thảo, ký kết, phê chuẩn cũng như triển khai đưa Hiến chương vào thực tế cuộc sống. Đặc biệt trong quá trình đàm phán xây dựng Hiến chương, Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng mang tính cân bằng, xây dựng đồng thời thể hiện vai trò là một thành viên năng động, trách nhiệm góp phần điều hòa các khác biệt, cùng các nước ASEAN đi đến được một văn bản dự thảo Hiến chương có giá trị, đáp ứng được yêu cầu chung. Việt Nam cũng thể hiện rõ vai trò là một nhân tố quan trọng góp phần giữ vững các nguyên tắc cơ bản, định hướng phát triển đúng của ASEAN, duy trì và tăng cường đoàn kết, nhất trí trong Hiệp hội. Sự tham gia tích cực của Việt Nam trong quá trình soạn thảo Hiến chương đã góp phần không nhỏ để Hiến chương được hoàn tất và ký kết với những nội dung cơ bản và toàn diện, đúc kết và hệ thống hóa những mục tiêu, nguyên tắc cơ bản và thỏa thuận đã có của ASEAN và cập nhật một số nội dung cho phù hợp với tình hình mới. Hiến chương cũng đã thể hiện khá cân bằng và dung hòa quan điểm và lợi ích của cơ bản của các nước thành viên, phản ánh sự "thống nhất trong đa dạng" của ASEAN.

     Sau khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng các nhà Lãnh đạo ASEAN ký thông qua Hiến chương (HNCC ASEAN 13, Xinh-ga-po, tháng 11/2007), Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn Hiến chương (Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký phê chuẩn Hiến chương ngày 06/03/2008) và tích cực tham gia các hoạt động chung của ASEAN trong việc tiến hành các công tác triển khai đưa Hiến chương vào cuộc sống, nhất là xây dựng Quy chế hoạt động của các cơ quan mới của ASEAN; tham gia tích cực các hoạt động của Nhóm đặc trách (HLP) và soạn thảo Quy chế hoạt động của Cơ quan nhân quyền ASEAN và Nhóm chuyên gia pháp lý (HLEG) về triển khai Hiến chương ASEAN.

     Hòa cùng với nỗ lực chung của ASEAN đẩy nhanh tiến trình liên kết khu vực và xây dựng Cộng đồng, Việt Nam tiếp tục tham gia hiệu quả và có những đóng góp tích cực trong quá trình xây dựng cũng như triển khai Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN gồm các Kế hoạch tổng thể xây dựng 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN và Kế hoạch công tác về Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) giai đoạn 2 (20090015), được thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 14 (tháng 2/2009).

     Bên cạnh việc tăng cường thúc đẩy hợp tác và liên kết nội khối, Việt Nam đã tích cực tham gia thúc đẩy hợp tác giữa ASEAN với các nước đối tác bên ngoài trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng thời góp phần đề cao và giữ vững vai trò chủ đạo của ASEAN tại các tiến trình hợp tác khu vực. Với tư cách là nước điều phối quan hệ đối thoại giữa ASEAN với nhiều đối tác quan trọng như Nhật Bản, Nga, Mỹ, Ôxtrâylia, Canada và hiện tại là Trung Quốc, Việt Nam đã phát huy vai trò là cầu nối tích cực tăng cường quan hệ giữa ASEAN với các đối tác này, kể cả việc góp phần tháo gỡ một số vướng mắc, giúp nâng tầm quan hệ giữa 2 bên, đuợc cả ASEAN và các nước Đối thoại đánh giá cao. Đồng thời, Việt Nam cũng có những đóng góp tích cực nhằm giữ vững vai trò chủ đạo của ASEAN tại các tiến trình hợp tác khu vực do ASEAN khởi xướng như ASEAN+1, ASEAN+3, EAS, Cấp cao Đông Á…, qua đó, góp phần thúc đẩy và đề cao vai trò, vị thế quốc tế của Hiệp hội. 

     III. Phương hướng tham gia hợp tác ASEAN của Việt Nam trong giai đoạn tới:

     Sau 20 năm tham gia ASEAN, Việt Nam đã khẳng định được vị thế và uy tín của mình; các nước thành viên ASEAN và các nước đối tác bên ngoài đều đánh giá cao sự tham gia tích cực và những đóng góp của Việt Nam trong việc củng cố và phát triển trong Hiệp hội, cũng như quan hệ hợp tác với các nước đối thoại của ASEAN. Tham gia hợp tác trong ASEAN đã góp phần quan trọng vào việc củng cố môi trường hòa bình và an ninh cho sự nghiệp phát triển đất nước; phá thế bao vây về chính trị, cô lập về kinh tế, tạo thuận lợi cho triển khai đường lối đối ngoại độc lập tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hoá của Đảng ta.

     Việt Nam luôn coi trọng hợp tác ASEAN vì ASEAN có tầm quan trọng chiến lược đối với an ninh và phát triển của Việt Nam. Lãnh đạo Cấp cao của Việt Nam cũng đã chỉ đạo phương châm tham gia ASEAN của Việt Nam trong giai đoạn mới sẽ là “tích cực, chủ động và có trách nhiệm”. Theo đó, để nâng cao hiệu quả tham gia hợp tác ASEAN trong tình hình mới, Việt Nam đã có nhiều đổi mới, từ nâng cao nhận thức và xác định phương hướng, biện pháp hợp tác đến việc cải thiện hiệu quả của tổ chức bộ máy và tăng cường phối hợp giữa các Bộ, ngành tham gia hợp tác ASEAN, tạo nên một nỗ lực chung của quốc gia thông qua Chương trình hành động của Chính phủ về việc Việt Nam tham gia ASEAN đến năm 2015. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quy chế làm việc và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan tham gia hợp tác ASEAN của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của ASEAN sau khi có Hiến chương, nhẳm nâng cao chất luợng và hiệu quả công tác phối hợp trong bộ máy các cơ quan tham gia ASEAN của Việt Nam.  

     Theo quy định của Hiến chương, Việt Nam đảm nhận chức Chủ tịch luân phiên của ASEAN từ tháng 1-12/2010. Để đảm nhiệm cương vị quan trọng này, Việt Nam đã có những bước chuẩn bị từ sớm, theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định lập UBQG về chuẩn bị và thực hiện vai trò Chủ tịch ASEAN 2010 với sự tham gia của lãnh đạo các Bộ, ngành và nhiều địa phương. Công tác chuẩn bị đang được khẩn trương tiến hành trên các mặt cả về nội dung, lễ tân-hậu cần, an ninh, tuyên truyền…  Trong quý I năm 2010, trên cương vị Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã chủ trì tổ chức và điều hành thành công nhiều hoạt động quan trọng của ASEAN, trong đó đáng chú ý là Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 16 (Hà Nội, 8-9/4/2010) và Hội nghị hẹp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (Đà Nẵng, 29/2-1/3/2010).

     XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG ASEAN 2015 VÌ MỤC TIÊU HÒA BÌNH, ỔNG ĐỊNH, PHÁT TRIỂN VÀ HƯỚNG TỚI NGƯỜI DÂN

     Ngày 31-120015, Cộng đồng ASEAN sẽ chính thức ra đời. Đây là dấu mốc quan trọng trong lịch sử của ASEAN. Dưới mái nhà chung đó, các dân tộc ở Đông Nam Á sẽ chung sống, gắn kết, chia sẻ lợi ích và phát triển trên chặng đường mới của mình. Mặc dù chưa là hiện thực, nhưng ngay từ lúc này, sự kiện đó đang thu hút mối quan tâm của cộng đồng quốc tế.

     Kể từ khi thành lập (ngày 08-08-1967) đến nay, ASEAN không chỉ phát triển về quy mô1, mà ngày càng phát huy vai trò đẩy mạnh hợp tác và liên kết khu vực, tăng cường đoàn kết, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa các dân tộc ở khu vực Đông Nam Á. ASEAN cũng là nhân tố hàng đầu thúc đẩy đối thoại và hợp tác vì hòa bình, an ninh, phát triển thông qua việc khởi xướng và giữ vai trò chủ đạo trong nhiều diễn đàn khu vực hiện có, với sự tham gia rộng rãi của các đối tác; đồng thời, là lực lượng có vai trò quan trọng ở châu Á-Thái Bình Dương. Trong quá trình đó, các thể chế hợp tác, phương thức làm việc của ASEAN từng bước được hoàn thiện, phát triển; trong đó, xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 chắc chắn sẽ là một trong những thành tựu nổi bật nhất.

     Hòa bình, ổn định, liên kết, phát triển và hướng tới người dân là mục tiêu, định hướng hoạt động của Cộng đồng ASEAN

     Trong kết cấu của Cộng đồng ASEAN gồm 3 trụ cột chính: Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC). Các quốc gia ASEAN đã đề ra những mục tiêu, biện pháp cụ thể, thiết thực trong lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, bao gồm: các kế hoạch tổng thể xây dựng 3 trụ cột Cộng đồng ASEAN, Sáng kiến hội nhập ASEAN (IAI) và Kế hoạch tổng thể kết nối ASEAN (MPAC). Theo đó, ASEAN phấn đấu tạo dựng một môi trường hòa bình và an ninh cho phát triển ở khu vực; một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất; có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề; từ đó, nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo sự hấp dẫn giới đầu tư - kinh doanh từ bên ngoài; một xã hội chia sẻ, đùm bọc, có trách nhiệm và hướng tới người dân trong khu vực. Đến nay, ASEAN đã triển khai được khoảng 85% các mục tiêu, biện pháp đề ra trong các kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng ASEAN; trong đó, trụ cột Chính trị - An ninh đạt khoảng 85%, trụ cột Kinh tế đạt gần 81% và trụ cột Văn hóa - Xã hội đạt khoảng 97%. Đồng thời, các quốc gia ASEAN đã cùng nhau triển khai được khoảng 40% Kế hoạch tổng thể kết nối ASEAN và 285 dự án trong khuôn khổ Sáng kiến liên kết ASEAN. Với kết quả này, ASEAN đang trên đường cán đích, hướng tới mốc hình thành Cộng đồng vào ngày 31-120015. Quá trình xây dựng Cộng đồng cũng tạo thêm xung lực mới cho những nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định, tăng cường liên kết kinh tế nội khối, khu vực châu Á - Thái Bình Dương và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

     Trong những năm qua, ASEAN ngày càng coi trọng các hoạt động lấy người dân làm trung tâm và vì lợi ích của người dân ở khu vực. Nhiều mục tiêu đề ra, nhất là trong Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Văn hóa - Xã hội liên quan đến cuộc sống người dân đã được ASEAN triển khai thực hiện. Điển hình là các kế hoạch, dự án, biện pháp quan trọng về phát triển chủ thể doanh nghiệp trẻ và việc làm cho thanh niên, đẩy mạnh an sinh xã hội, xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em, tăng cường hợp tác quản lý thiên tai, phòng, chống các bệnh không lây nhiễm, biến đổi khí hậu,… ở từng quốc gia và khu vực.  Cũng vì lẽ đó, Ma-lai-xi-a - nước Chủ tịch ASEAN 2015 - đã xác định chủ đề của năm Chủ tịch là: “Người dân của chúng ta, Cộng đồng của chúng ta, Tầm nhìn của chúng ta, với trọng tâm lấy người dân làm trung tâm”. Kết quả công việc theo mục tiêu hướng tới người dân có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với thành công của Cộng đồng, bởi người dân là chủ thể chính trong việc xây dựng Cộng đồng và chính những nỗ lực xây dựng Cộng đồng vì hòa bình, ổn định, phát triển cũng là để phục vụ lợi ích của người dân.

     Nhận thức rõ xây dựng Cộng đồng vì mục tiêu hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực không thể tách rời các quan hệ với các đối tác ngoài ASEAN, nhất là đối với các cường quốc, ASEAN đã chú trọng thúc đẩy quan hệ với các đối tác nhằm tranh thủ sự ủng hộ và hỗ trợ, kể cả về nguồn lực phục vụ xây dựng Cộng đồng. ASEAN tích cực triển khai các cam kết, không ngừng nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án hợp tác, nhằm làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác. Về phía các đối tác cũng khẳng định, tiếp tục coi trọng và thúc đẩy quan hệ với ASEAN, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình cũng như ủng hộ nỗ lực xây dựng Cộng đồng, liên kết và hội nhập khu vực của Hiệp hội.

     Phát huy vai trò chủ động, tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam trong xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015

    Qua 20 năm là thành viên của ASEAN, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình và có đóng góp tích cực vào công việc của ASEAN, góp phần quan trọng vào sự phát triển và thành công của Hiệp hội. Thực tiễn cho thấy, chỉ sau 3 năm gia nhập ASEAN, Việt Nam đã chủ trì và tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 (năm 1998), đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch Ủy ban thường trực ASEAN (ASC) (nhiệm kỳ 2000 - 2001), đóng góp tích cực vào việc mở rộng thành viên của ASEAN (kết nạp các nước Lào, Mi-an-ma, Cam-pu-chia), phát huy vai trò nước điều phối quan hệ đối thoại của ASEAN với các đối tác quan trọng, như: Nga, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Trung Quốc và hiện đang là nước điều phối quan hệ đối thoại ASEAN - EU (nhiệm kỳ 2012 – 2015). Việt Nam cũng hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN 2010, góp phần tăng cường đoàn kết nội khối, phát huy “văn hóa thực thi” trong ASEAN, đưa hợp tác ASEAN chuyển biến về chất theo hướng hành động và thực chất hơn, tạo đà mạnh mẽ cho Hiệp hội hướng tới mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015; đồng thời, đẩy mạnh quan hệ với các đối tác và nâng cao vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực. Quốc hội nước ta đã chủ trì nhiều cuộc họp chung hoặc chuyên ngành của Quốc hội các nước ASEAN, tham gia tích cực các hoạt động chung của ASEAN. Các tổ chức hữu nghị, nhân dân của ViệtNam đã có những hoạt động phong phú ở trong nước và tại các cơ chế nhân dân của ASEAN.

     Đặc biệt, Việt Nam đã tham gia sâu, rộng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN; chủ động tham gia xây dựng phương hướng phát triển và thảo luận để thông qua các quyết sách lớn của ASEAN; tích cực cùng các nước thành viên triển khai các nội dung ưu tiên hợp tác của ASEAN, nhất là triển khai hiệu quả, đúng hạn lộ trình xây dựng Cộng đồng. Năm 2014, cùng với các quốc gia thành viên khác, Việt Nam đẩy nhanh tiến độ thực hiện những cam kết đã thỏa thuận và là một trong số các thành viên ASEAN đạt tỷ lệ cao khi hoàn thành các dòng hành động trong lộ trình đã xác định.

     Về chính trị - an ninh, Việt Nam cùng các nước ASEAN tiếp tục thúc đẩy 14 lĩnh vực ưu tiên, triển khai các mục tiêu còn lại của Kế hoạch tổng thể APSC; trong đó có việc nhận, chủ trì và triển khai 04 dòng hành động trong số 32 biện pháp còn lại, được cho là khó thực hiện do tính nhạy cảm và phức tạp. Việt Nam đã tích cực triển khai sáng kiến của Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) về thiết lập đường dây liên lạc trực tiếp giữa Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN; chủ trì tổ chức thành công Diễn đàn Biển ASEAN (AMF) và Diễn đàn Biển ASEAN mở rộng (EAMF), góp phần nâng cao vai trò của diễn đàn đối với hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn biển cũng như tự do hàng hải trong khu vực và tham gia các hoạt động cụ thể của ASEAN cũng như giữa ASEAN với các đối tác về phòng, chống khủng bố và các loại tội phạm.

     Về kinh tế, Việt Nam là một trong ba nước đạt tỷ lệ cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu của Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (84,5%); tham gia tích cực trong đàm phán về các biện pháp thuận lợi hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ; chủ động thực hiện các cam kết về giảm thuế nhập khẩu xuống mức từ 0 - 5% theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (đối với đa số các dòng thuế trong danh mục cắt giảm thông thường) và nỗ lực hoàn thành cam kết về xóa bỏ thuế quan đối với các sản phẩm trong các ngành ưu tiên hội nhập, mở rộng hợp tác và liên kết kinh tế giữa ASEAN với các đối tác.

     Về văn hóa - xã hội, Việt Nam đã chủ động đề xuất sáng kiến, ủng hộ hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên của ASEAN hiện nay, như: an sinh xã hội, môi trường, quản lý thiên tai, biến đổi khí hậu và thúc đẩy, bảo vệ quyền của lao động di cư. Trên cương vị là Chủ tịch Nhóm Công tác ASEAN về Biến đổi khí hậu (giai đoạn 2014 – 2015), Việt Nam chủ trì cùng các nước thành viên xây dựng Tuyên bố chung ASEAN về Biến đổi khí hậu 2014 và được Lãnh đạo ASEAN thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN05 vừa qua (tháng 110014). Cũng trong năm 2014, chúng ta đã chủ trì tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng phụ trách Văn hóa Nghệ thuật ASEAN lần thứ 6 và Hội nghị Bộ trưởng Y tế ASEAN lần thứ 12 và các hội nghị liên quan. Các hoạt động tích cực, chủ động và có trách nhiệm của ViệtNam đã góp phần đưa Hiệp hội tiến gần đến mục tiêu hoàn thành xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015.

     Trước những diễn biến phức tạp ở Biển Đông, nhất là việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chúng ta đã kiên trì trao đổi cùng các quốc gia trong khu vực để tăng đồng thuận; cùng nhau bày tỏ lo ngại chung đối với những diễn biến đe dọa đến hòa bình, an ninh khu vực; kêu gọi sự kiềm chế, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, mà kiên trì giải quyết các tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế; trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các cam kết khu vực, nhằm bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Lần đầu tiên kể từ năm 1992, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã ra Tuyên bố riêng về Biển Đông (ngày 10-50014) bày tỏ quan ngại về diễn biến phức tạp ở Biển Đông và khẳng định lập trường chung của ASEAN. Lập trường của Việt Nam và ASEAN đã được sự ủng hộ của nhiều đối tác của ASEAN. Đồng thời, Việt Nam còn chủ động, tích cực phối hợp với các nước thành viên khác trong ASEAN thúc đẩy tiến trình tham vấn với Trung Quốc về thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đặc biệt là đối với Điều 5 (về kiềm chế và không làm phức tạp tình hình) và thảo luận xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

     Tích cực, chủ động xây dựng định hướng phát triển của Hiệp hội giai đoạn sau 2015

     Xây dựng Cộng đồng ASEAN là một giai đoạn của tiến trình phát triển, do đó mốc 31-120015 khi Cộng đồng ASEAN hình thành không phải là đích cuối cùng của liên kết ASEAN, mà là sự khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới của Hiệp hội. Trên cơ sở nhận thức chung như vậy, các quốc gia thành viên ASEAN đã nhất trí xây dựng nội dung Tầm nhìn của Cộng đồng ASEAN sau 2015 (giai đoạn 2016 - 2025) và việc xây dựng này, cần kế thừa kết quả triển khai lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN (giai đoạn 2009 - 2015); đồng thời, nâng tầm liên kết, kết nối ASEAN và khu vực lên mức cao hơn. Hiện nay, ASEAN đã thành lập Nhóm Đặc trách cao cấp, bao gồm đại diện của 10 nước thành viên và đã tiến hành thương lượng với quyết tâm hoàn tất nội dung Dự thảo Tầm nhìn trước cuối năm nay để trình Hội nghị Cấp cao ASEAN07 (vào tháng 110015). Để tiếp tục phát huy tinh thần tích cực, chủ động và có trách nhiệm của 20 năm tham gia hợp tác ASEAN; đồng thời, phấn đấu để có đóng góp trong xây dựng, định hình luật chơi chung, phương hướng của chúng ta trong năm bản lề 2015 là: tham gia hợp tác sâu hơn, hiệu quả hơn trong các hoạt động hợp tác ASEAN; trong đó tập trung vào các nội dụng cụ thể sau:

     Một là, tích cực và chủ động đóng góp vào việc phát huy vai trò, sự đoàn kết của ASEAN trong việc duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực thông qua việc đẩy mạnh xây dựng lòng tin, đề cao luật pháp quốc tế, các chuẩn mực ứng xử chung liên quan đến ngăn ngừa xung đột, giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế; trong đó có việc thực hiện DOC, xây dựng COC, củng cố và nâng cao giá trị các công cụ và cơ chế hợp tác chính trị - an ninh hiện có ở khu vực.

     Hai là, để hoàn thành công việc ở cấp độ quốc gia liên quan đến việc hình thành Cộng đồng ASEAN 2015, các bộ, ngành liên quan cần khẩn trương hoàn thành các chương trình, kế hoạch mà Hiệp hội đã đề ra; đồng thời, rà soát nhằm kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định pháp luật và thủ tục hành chính cho phù hợp với các cam kết. Tuyên truyền về Cộng đồng ASEAN 2015 nhằm nâng cao nhận thức của người dân về ASEAN và coi hoạt động của Việt Nam tại tổ chức này có ý nghĩa quan trọng trong năm hình thành Cộng đồng.

     Ba là, để chủ động tham gia xây dựng Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau 2015, đòi hỏi các bộ, ngành khẩn trương xác định các nội dung ưu tiên hợp tác ASEAN trong 10 năm tới; từ đó, lồng ghép vào các chương trình, kế hoạch chung của ASEAN trong quá trình xây dựng văn kiện Tầm nhìn ASEAN sau 2015.

     Bốn là, qua nghiên cứu những chuyển biến mới của tình hình quốc tế, tổng kết kết quả hoạt động của ASEAN và trên cơ sở những nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại, chúng ta cần chủ động đề xuất thêm những sáng kiến, cách thức và biện pháp để thúc đẩy liên kết ASEAN, củng cố và tăng cường đoàn kết, thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực; đẩy mạnh quan hệ đối ngoại của ASEAN.

     Năm là, tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về tầm quan trọng chiến lược của việc Việt Nam tham gia hợp tác ASEAN để có sự đầu tư thích đáng về nhân lực và nguồn lực; tăng cường hiệu quả của các cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và nâng cao hơn nữa năng lực của cán bộ tham gia hợp tác ASEAN sau khi Cộng đồng ra đời.

     Với tinh thần đó, Việt Nam sẽ tiếp tục những nỗ lực, cùng các nước thành viên ASEAN hoàn thành mục tiêu xây dựng Cộng đồng, góp phần thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển, vì cuộc sống tốt đẹp hơn của người dân trong khu vực.

BAN THƯ KÝ HỘI SINH VIÊN TỈNH